Trường Cao đẳng Công nghệ Hà Nội

Km12 – Đ.Cầu Diễn – Phúc Diễn – Bắc Từ Liêm – Hà Nội

Điện thoại phòng tuyển sinh: 024.62952832

Fax: 024.37805042

Email: tuyensinh@hitech.edu.vn

10 quyển sách hay về Bác Hồ nên đọc

Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đã được UNESCO tôn vinh – anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Bác là vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp trọn đời cho con đường giành độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam. Với những quyển sách hay về Bác Hồ kính yêu sau, bạn sẽ thêm hiểu biết và ngưỡng mộ thành cựu và công lao của Bác đối với dân tộc Việt Nam.

Hồ Chí Minh – Hành trình 79 Mùa Xuân

Hồ Chí Minh – Hành trình 79 Mùa Xuân là quyển sách hay về Bác dành cho những ai có nhu cầu nghiên cứu, học tập, tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhằm khuyến khích thế hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của nước nhà, làm theo tấm gương Bác Hồ, có ý chí vươn lên, khát vọng cống hiến, làm chủ cuộc sống, trung với nước, hiếu với dân.Chủ tịch Hồ Chí Minh – người đã được UNESCO tôn vinh – anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của dân tộc Việt Nam. Bác là vị lãnh tụ thiên tài, người sáng lập, rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam với sự nghiệp trọn đời cho con đường giành độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam.

Hồ Chí Minh – Con Người Của Sự Sống

Với nhiều tâm lực bỏ ra cho cuộc nghiên cứu về chủ tịch Hồ Chí Minh, GS. TS. Mạch Quang Thắng đã mang đến bạn đọc quyển sách hay về Bác này, nhằm phản ánh một phần diện mạo quan trọng của Hồ Chí Minh trong lịch sử hiện đại Việt Nam và thế giới.Bác đã trở thành nhân vật kiệt xuất, một con người dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp tìm và giải phóng dân tộc, không những thế còn làm rạng danh dân tộc và trở thành giá trị văn hóa bất diệt, hợp lưu với dòng chảy trong hệ giá trị văn hóa của tiến trình lịch sử hàng ngàn năm dân tộc Việt Nam.

Văn Thơ Hồ Chí Minh – Tác Phẩm Và Lời Bình

Trong quyển sách hay về Bác này, chúng ta sẽ được biết đến những bình luận, phân tích của những nhà nghiên cứu văn học hàng đầu Việt Nam về những tác phẩm nổi tiếng của Bác, có thể kể đến như: ‘Bản án chế độ thực dân Pháp”, “Nhật ký chìm tàu”, “Lời than vãn của bà Trưng Trắc”, “Vi hành”, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu”…Ngoài ra còn viết về những bài thơ của Bác như “Chúc Tết kháng chiến đầu tiên”, “Bài thơ châm biếm của Bác”… Các lời bình đều chú trọng làm rõ tầm nhìn chiến lược trong tư tưởng cách mạng của Hồ Chí Minh, phát hiện những dụng ý nghệ thuật.

Nhật Ký Trong Tù

Nhật Ký Trong Tù là tác phẩm nổi tiếng nhất của Bác, gồm 133 bài thơ bằng chữ Hán, được viết trong giai đoạn từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943. Bên cạnh thơ văn, phần cuối tác phẩm là những bút ký đọc sách và đọc báo ghi chép tóm tắt những thông tin về quân sự và văn hóa mà ông đọc được trên sách, báo. Nhật ký trong tù không chỉ ghi lại những cảnh sinh hoạt trong tù, mà còn có ý nghĩa tố cáo chế độ nhà tù khắc nghiệt của chính quyền Tưởng Giới Thạch.

Chủ Tịch Hồ Chí Minh Và Bản Tuyên Ngôn Độc Lập

Đây là quyển sách hay về Bác tập trung về quá trình chủ tịch kính yêu Hồ Chí Minh soạn thảo bản tuyên ngôn độc lập, ngoài ra còn đề cập đến những câu chuyện kể, những hồi ức về các sự kiện lịch sử hào hùng của dân tộc, mà còn cung cấp những bài viết, bài nghiên cứu có giá trị về ý nghĩa và sức sống trường tồn của bản tuyên ngôn độc lập.

Hồ Chí Minh Tên Người Sống Mãi

Từ buổi thiếu niên cho đến những giây phút cuối cùng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ.Với mỗi người dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là biểu tượng ngời sáng về đạo đức cách mạng, về tinh thần đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, mưu cầu cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Không chỉ thế, từ những ngày còn hoạt động gian khổ, cho đến khi trở thành Chủ tịch nước, Người luôn quan tâm, chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, từ các cụ già, phụ nữ, em nhỏ, đến các chiến sĩ ngoài biên cương, hải đảo…

Những Mẫu Chuyện Về Phong Cách Hồ Chí Minh

Đây là quyển sách hay về Bác cùng những mẫu chuyện làm nêu bật tính cách và con người của vị chủ tích vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Qua những mẩu chuyện kể rất đời thường về Bác, chúng ta sẽ được thấy những khía cạnh phong cách tư duy, phong cách làm việc, phong cách diễn đạt, phong cách ứng xử, phong cách sinh hoạt của Bác. Mỗi mẩu chuyện đều thể hiện phong cách rất giản dị, gần gũi nhưng thật tinh tế của Bác

Di Sản Hồ Chí Minh – Bác Hồ Với Việc Đọc Và Tự Học

Bác Hồ của chúng ta có một tình yêu đặc biệt đối với sách báo và từ rất sớm, ở Người đã hình thành nhu cầu văn hóa về đọc sách báo. Có thể nói, Bác là hiện thân sinh động và cảm động về văn hóa đọc. Đó không chỉ là văn hóa xét về loại hình, thao tác của tư duy và tư tưởng mà còn là một trong những khởi đầu rất quan trọng của văn hóa sống và sáng tạo, văn hóa ở đời và làm người, để suốt đời Ái Quốc – Ái Dân, theo đuổi và thực hiện độc lập cho Tổ quốc, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Với Người, đó là lý tưởng, mục tiêu cao quý nhất, là những giá trị thiêng liêng nhất hướng tới Dân và vì Dân.

Bác Hồ Với Mặt Trận Việt Minh

Quyển sách hay về Bác khắc hoạt vai trò của lãnh tụ Hồ Chí Minh trong Mặt trận Việt Minh giai đoạn từ 1941 đến 1951. Với sự lãnh đạo tài tình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân, đánh đổ thực dân Pháp, phát xít Nhật, giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Bác Hồ Viết Di Chúc

Với tình cảm sâu nặng đối với Bác Hồ và những cảm xúc, suy ngẫm sâu sắc về Di chúc, tác giả Vũ Kỳ – Thư kí của Bác đã kể lại khá chi tiết quá trình viết di chúc của Bác bắt đầu từ tháng 5 năm 1965 cho đến lúc hoàn thành. Di chúc phản ảnh tâm hồn cao đẹp, đạo đức trong sáng “muôn vàn tình thân yêu” của chủ tịch Hồ Chí Minh đối với tổ quốc, với nhân dân, với phong trào cách mạng thế giới, với bầu bạn khắp năm châu, nhất là đối với thành niên và nhi đồng. Di chúc của Người đã trở thành tài sản tinh thần vô giá cho muôn đời con cháu mai sau.

Hồ Chí Minh trong tâm trí bạn bè quốc tế

 Hồ Chí Minh trong mắt bạn bè quốc tế, từ lâu, đã là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ.
ho chi minh trong tam tri ban be quoc te Hồ Chủ tịch và những phiên họp Chính phủ đáng nhớ tại chiến khu
ho chi minh trong tam tri ban be quoc te Tháng 5 nhớ Người

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là vị lãnh đạo kính yêu của nhân dân Việt Nam mà đối với thế giới rất nhiều nhà chính trị, văn hóa, văn nghệ sĩ… đã hết lời ca ngợi Người như một nhân vật kiệt xuất, một nhà chính trị kỳ tài, tấm gương lớn về nhân cách hoàn thiện. Đã từ lâu hình ảnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong con mắt bạn bè quốc tế đã là hình ảnh của một Việt Nam thu nhỏ.

Tên gọi khác của niềm hy vọng

Etmong Misble, Bộ trưởng các quân chủng Pháp, người được ủy nhiệm tiếp Hồ Chí Minh ở Paris năm 1946, nhận định về Hồ Chí Minh: “Đó là một người cộng sản theo lý tưởng. Ông chắc chắn là một người chấp nhận cách mạng cộng sản chủ nghĩa… nhưng trong tự do (1).

ho chi minh trong tam tri ban be quoc te
Những ký ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế. (Nguồn: Flickr)

Năm 1946, qua sự kiện Hội nghị Fontaineblean, danh họa Picasso đã gặp gỡ Bác khi Bác là thượng khách của Chính phủ Pháp. Ông Vũ Đình Huỳnh (thư ký riêng của Bác) đã kể lại lời Picasso thích thú nói về bức tranh Bác vẽ người phu xe gầy gò kéo một người Âu bụng phệ trên tờ Le Paria (Người cùng khổ) là“Chỉ mấy nét vẽ này, ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tàng ẩn bên trong. Nếu như anh (Bác Hồ) tiếp tục con đường hội họa thì cũng có thể là một danh họa. Nhưng, hôm nay anh Nguyễn đã là Chủ tịch Hồ Chí Minh, người đã đi đầu trong cuộc đấu tranh cho độc lập, tự do của một dân tộc”. (2) 

Hồ Chí Minh là hình ảnh sống về đạo đức cách mạng. Nét đặc biệt ở Người là sự khiêm tốn, giản dị chân thành. Cố Tổng thống Chile Xanvado Agiende đã phát biểu về Bác như vậy : “Đằng sau vẻ bề ngoài mềm mỏng của Ông là một tinh thần quật cường, dũng cảm, bất khuất… Lúc đầu người phương Tây chỉ cười bộ quần áo của Ông, xong rồi nhiều người nhận rõ rằng bộ quần áo đặc biệt của Ông chứng tỏ cho dù bất cứ ở đâu, giữa những người thượng lưu hay giữa đám đông quần chúng, không bao giờ Ông quên mình là người trong quần chúng của đất nước Việt Nam yêu quý của mình… Nếu ai muốn tìm một từ có thể tóm gọn tất cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì đó là một sự hết sức giản dị và hết sức khiêm tốn của Ông (3).

Nhà báo Mỹ Harrison S. Salisbury sau khi được gặp Bác, đã viết: “Cụ sống giản dị và khắc khổ tại căn buồng phụ nhỏ và đơn sơ sau dinh toàn quyền cũ ở Hà Nội, rất lịch thiệp khi uống trà với khách (tặng một bông hồng đối với khách nữ, nói một câu đùa hài hước đối với khách nam), tất cả đều là nhân tố của thần thoại và truyền thuyết…”(4).  Nhà văn nữ Blaga Đimitrova của Bulgaria cũng viết trong “Một giờ với đồng chí Hồ Chí Minh”: “Niềm hy vọng cũng có nhiều tên gọi khác nhau, song ở Việt Nam niềm hy vọng được tượng trưng là Chủ tịch Hồ Chí Minh… (5).

ho chi minh trong tam tri ban be quoc te
Cho dù bất cứ ở đâu, giữa những người thượng lưu hay giữa đám đông quần chúng, không bao giờ Ông quên mình là người trong quần chúng của đất nước Việt Nam.

Khi viết về 60 năm hoạt động cách mạng của Bác Hồ, nhà báo Mỹ viết: “Người Mỹ thường nghĩ về Hồ Chí Minh qua cuộc chiến tranh ở Việt Nam và qua những dính líu của Mỹ… Cụ đã bằng phương pháp nào đó, đưa toàn bộ kỹ thuật quân sự Mỹ đến đường cùng trong một cuộc chiến đấu không tiền khoáng hậu giữa chàng David và tên khổng lồ Goliath thời hiện nay”…(6).

Báo Le Figaro của Pháp đã viết về Bác“Cụ Hồ Chí Minh là người đã buộc Pháp phải bỏ thuộc địa quan trọng nhất là Đông Dương… Cụ là một trong những nhân vật nổi tiếng nhất và làm cho chúng ta kinh ngạc nhất của thế kỷ chúng ta” (7).

Ở đất nước Chile – nơi cách xa Việt Nam hàng vạn dặm, một người thanh niên tên Victore Hara đã đặt hình ảnh Hồ Chí Minh lên ngực mình và viết một bài hát về Bác được trình bày tại quảng trường ở Helsinki trước hơn 5.000 đại biểu thanh niên, sinh viên thế giới vào lúc 9h sáng ngày 23/08/1969. Victore Hara đã trút hơi thở cuối cùng dưới bàn tay tàn sát đẫm máu của chế độ độc tài Pinochet.

“Một lãnh tụ thần thoại”

Châu Phi – một trong những nền văn minh sớm nhất của thế giới cổ đại, đi đến độc lập, tự do như ngày hôm nay, ngoài sự hy sinh, đấu tranh kiên cường, bất khuất của nhân dân “lục địa đen”. Có được điều đó phải kể đến sự giúp đỡ chí tình của phong trào cách mạng thế giới, trong đó có sự giúp đỡ của “Việt Nam – Hồ Chí Minh”.

Ông Houari Boumediene, Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng nước Cộng Hòa nhân dân Algeria đã viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là người mở đầu cho cuộc đấu tranh của nhân dân các nước trong thế giới thứ ba để tự giải phóng mình khỏi ách kìm kẹp của chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa đế quốc” (8).

Tổng thống Sekou Toure của Guinea cũng viết “Xuất sắc và dũng cảm người anh Hồ Chí Minh là tấm gương tốt đẹp đối với các dân tộc Á – Phi trong cuộc đấu tranh cao cả chống chủ nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới … (9).

Đối với nhân dân châu Phi, Hồ Chí Minh là hình ảnh được coi như “một lãnh tụ thần thoại” của Đảng và nhân dân Việt Nam, tượng trưng cho cuộc đấu tranh anh hùng và thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới.

Và ngày 12/11/2013, Tổng thống Liên Bang Nga V. Putin đã đến Hà Nội thăm chính thức Việt Nam. Ông đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh và viết trong sổ lưu niệm:”Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai… Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”.

Để tạm sơ kết về số lượng người nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, những cuốn sách, bài viết về Người của các tác giả người nước ngoài đến nay chưa thể xác định được chính xác. Nhưng, đại để đã có trên 200 tác phẩm và các công trình nghiên cứu, hàng trăm tạp chí, hàng ngàn bài báo của các vị lãnh đạo các nước, các nhà nghiên cứu lịch sử, văn học, triết học, tâm lý học, nhân chủng học, văn hóa học, các nhà thơ, các phóng viên của các tờ báo lớn trên thế giới… viết về Hồ Chủ tịch. Tên tuổi và sự nghiệp của Người đã được trân trọng ghi vào các bộ đại bách khoa thế giới, các bộ tự điển danh nhân lỗi lạc của loài người.

Ngày nay, mặc dù Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi, đã bước sang một vận hội mới phù hợp với xu thế tiến lên của thời đại, nhưng những ký ức về Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi trong mỗi người dân Việt Nam nói riêng và bạn bè quốc tế nói chung.


(1) – “Hồ Chí Minh” Planete Action – Paris 1970 (in trong “Hồ Chí Minh – danh nhân văn hóa” – NXB Hội nhà văn – H. 1990).

(2) – “Vài chi tiết thú vị về Bác Hồ qua cuốn sách” – Minh

NHỮNG CÂU CHUYỆN VÀ HÌNH ẢNH CỦA BÁC VỚI NHÂN DÂN

NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ BÁC VÀ NHÂN DÂN

 1.     Chú sang xông nhà cho Bác

Vào các dịp lễ tết, vẫn có một số anh chị em “ăn cơm tập thể, nằm giường cá nhân” ở lại trực cơ quan.

Mồng một tết âm lịch (năm 1956), nhường anh em khác về quê, tôi ở lại bảo vệ cơ quan.

Khoảng 9 giờ sáng, khi mọi người đã rộn ràng đi chúc tết, thì Bác tới.

Thấy nhà vắng lặng, chỉ có mỗi mình tôi ngồi ở bàn, Bác mừng tuổi tôi một chiếc bánh chưng, một gói kẹo, chúc tôi nhân dịp năm mới, rồi Bác hỏi:

– Mồng một tết chú khai bút cái gì đó?

– Thưa Bác, cháu đang viết báo cáo tổng kết công tác năm 1955 của đội ạ.

Bác khen:

– Các  chú thật cần cù, chịu khó, quanh năm vất vả. Những ngày mưa dầm gió bấc, Bác ngủ trên nhà, còn các chú phải thức suốt đêm ở dưới vườn. Tết còn phải làm việc.

Bác nói tiếp:

– Chú viết báo cáo ngắn thôi. Kết luận là: toàn đội hết lòng bảo vệ Trung ương Đảng và Chính phủ được an toàn. Không nên nói: bảo vệ Hồ Chủ tịch, vì trong Trung ương Đảng và Chính phủ là có đủ mọi người rồi.

Bác nắm tay tôi:

– Chú sang xông nhà cho Bác đi.

Bác phân công tôi rửa ấm chén, còn Bác thì lau bàn ghế và cắm hoa để đón các đồng chí trong Bộ Chính trị sang chúc tết.

Tết năm ấy, tôi lại là người vui nhất.

 

2.Nước nóng, nước nguội

Buổi đầu kháng chiến chống Pháp, có một đồng chí cán bộ trung đoàn thường hay quát mắng, đôi khi còn bợp tai chiến sỹ. Đồng chí này đã từng là giao thông, bảo vệ Bác đi ra nước ngoài trước Cách mạng Tháng Tám.

Được tin nhân dân “dư luận” về đồng chí này, một hôm, Bác cho gọi lên Việt Bắc. Bác dặn trạm đón tiếp khu ATK, dù có đến sớm, cũng giữa trưa mới cho đồng chí ấy vào gặp Bác.

Trời mùa hè, nắng chang chang, đi bộ đúng ngọ “đồng chí Trung đoàn” vã cả mồ hôi, người như bốc lửa.

Đến nơi, Bác đã chờ sẵn. Trên bàn đã đặt hai cốc nước, một cốc nước sôi có ý chừng vừa như mới rót, bốc hơi nghi ngút, còn cốc kia là nước lạnh.

Sau khi chào hỏi xong, Bác chỉ vào cốc nước nóng nói:

– Chú uống đi.

Đồng chí cán bộ kêu lên:

– Trời! Nắng thế này mà Bác lại cho nước nóng làm sao cháu uống được.

Bác mỉm cười:

– À ra thế. Thế chú thích uống nước nguội, mát không?

– Dạ có ạ.

Bác nghiêm nét mặt nói:

– Nước nóng, cả chú và tôi đều không uống được. Khi chú nóng, cả chiến sĩ của chú và cả tôi cũng không tiếp thu được. Hoà nhã, điềm đạm cũng như cốc nước nguội dễ uống, dễ tiếp thu hơn.

Hiểu ý Bác giáo dục, đồng chí cán bộ nhận lỗi, hứa sẽ sửa chữa…

3.Chú ngã có đau không?  

Vào đầu năm 1954, tiết trời đã sang xuân, nhưng ở Việt Bắc vẫn còn rét. Gió bấc thổi mạnh, mưa phùn lâm râm gây nên cái lạnh buốt, Bác vẫn làm việc rất khuya. Bác khoác chiếc áo bông đã cũ, miệng ngậm điếu thuốc lá thỉnh thoảng lại hồng lên, tiếng máy chữ lách tách, lách tách đều đều…

Trời lạnh, nhưng được đứng gác bên Bác, tôi thấy lòng mình như được sưởi ấm lên. Tôi nhẹ bước chân đi vòng quanh lán. Một lần vừa đi, vừa nghĩ, tôi bị thụt chân xuống một cái hố tránh máy bay. Tôi đang tìm cách để lên khỏi hố, chợt nghe có tiếng bước chân đi về phía mình. Có tiếng hỏi:

– Chú nào ngã đấy?

Chưa kịp nhận ra ai, thì tôi đã thấy hai tay Bác luồn vào hai nách, chòm râu của Bác chạm vào má tôi. Tôi cố trấn tĩnh lại để nói một lời thì giật mình khi thấy Bác không khoác áo bông, Bác đi tất, một chân có guốc, một chân không, nước mắt tôi trào ra. Vừa kéo, Bác vừa hỏi:

– Chú ngã có đau không?

Bác sờ khắp người tôi, nắn chân, nắn tay tôi. Rồi Bác nói:

– Chú ngã thế đau lắm. Chú cứ ngồi xuống đây bóp chân cho đỡ đau. Ngồi xuống! Ngồi xuống!

Tôi bàng hoàng cả người, không tin ở tai mình nữa. Có thật là Bác nói như vậy không! Bác ơi! Bác thương chúng cháu quá!

Tôi trả lời Bác:

– Thưa Bác, cháu không việc gì ạ. Rồi tôi cố gắng bước đi để Bác yên lòng.

Bác cười hiền hậu và căn dặn: “Bất cứ làm việc gì chú cũng phải cẩn thận”. Rồi Bác quay vào.

Tôi đứng nhìn theo Bác cho đến lúc lại nghe tiếng máy chữ của Bác kêu lên lách tách, đều đều trên nhà sàn giữa đêm Việt Bắc.

4.. Tấm lòng của Bác Hồ với chiến sỹ

Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo, săn sóc ân tình, chu đáo nhất.

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ.

Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được!”.  “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

Mùa hè năm ấy (1967), trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh tuổi già cũng suy nhược, dễ bị to¸t mồ hôi, ướt đầm, có ngày phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Bác không cho dùng máy điều hòa nhiệt độ. Bác bảo: mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được ! ( Bác không dùng nên nói vậy thôi, chứ máy đã có nút xả thơm).

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

– Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì chịu sao được ? Các chú ấy có đủ nước uống  không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng máy 14 ly 5. Ụ cát sơ sài, nếu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

– Các đồng chí có nước ngọt uống không?

– Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng:

– Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường Ba Đình rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí cho sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác, mua lợn để đón xuân.

Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

– Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 lạng vàng).

Bác bảo:

– Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!

Về sau, Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: số tiền của Bác đủ mua nước uống cho bộ đội phòng không, không quân được một tuần!

 

5. Để Bác quạt

 

Năm ấy, Bác Hồ đến thăm trại điều dưỡng thương binh ở Hà Nội.

Tin Bác đến nhanh chóng lan ra khắp trại. Anh chị em thương binh ai cũng muốn len vào gần Bác, quên cả nạng phải dùng để đi.

Đang lúc Bác thăm hỏi sức khoẻ thương binh bỗng một đồng chí hỏng mắt nhờ một y tá dẫn đến xin đứng bên Bác. Đồng chí Ninh đi với Bác định bước lại đỡ đồng chí ấy, nhưng Bác đã đi tới, giơ hai tay ra đón. Đồng chí thương binh ôm chầm lấy Bác nghẹn ngào “Bác ơi”! Bác lặng đi giây lát rồi mới tiếp tục câu chuyện thăm hỏi.

Bác đến từng giường anh chị em đau nặng hỏi thăm bệnh tật đã đỡ chưa, mỗi bữa ăn được bao nhiêu bát cơm.

Hôm ấy, trời nóng bức, Bác lấy cái quạt giấy vẫn dùng, quạt cho các thương binh. Có người định làm thay, Bác nói:

– Để bác quạt.

Hôm ấy, lúc ra về Bác không vui.

Và có lẽ vì thế mà khi cơ quan định lắp máy điều hoà nhiệt độ nơi Bác ở, Bác bảo đem ra cho các đồng chí thương binh

6. Bác Hồ với chiến sĩ người dân tộc

Bác của chúng ta yêu quý mọi chiến sĩ. Đối với các chiến sĩ gái, chiến sĩ người dân tộc, Bác còn chăm sóc hơn vì đây là những người làm cách mạng khó khăn hơn chiến sĩ trai, chiến sĩ người Kinh nhiều.

Anh hùng La Văn Cầu, dân tộc Tày mãi mãi không quên bữa cơm của Bác “đãi” với rau, thịt gà… những “sản phẩm” do chính Bác  nuôi, trồng. Bác hỏi thăm mẹ Cầu, gửi quà cho mẹ, dặn cán bộ tạo mọi điều kiện để Cầu về thăm mẹ, giúp đỡ gia đình.

Nhiều chiến sĩ người dân tộc đã lấy họ Hồ cho mình  như Hồ Vai, Hồ Can Lịch, Hồ Văn Bột…

Mùa thu năm 1964, chị Choáng Kring Thêm – chiến sĩ người dân tộc Cà Tu, tham gia đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được ra miền Bắc, gặp Bác Hồ. Chị Thêm kể:

“Đoàn chúng tôi vừa bước xuống xe thì đã thấy Bác  đứng chờ ngay ngoài sân.

Bác ôm hôn thắm thiết các thành viên trong đoàn. Chúng tôi theo Bác  đến dãy bàn tiếp khách kê ngay ngoài vườn đầy hoa và nắng. Thấy tôi mặc bộ quần áo dân tộc, Bác nói:

– Cháu đúng là con gái dân tộc Cà Tu giữ được tính chất của dân tộc mình.

Chị Ngân, chị Cao gặp Bác, mừng quá khóc lên. Bác dịu dàng bảo:

– Các cháu gái đừng khóc. Gặp Bác phải vui chứ. Hai cháu hãy kể cho Bác nghe bà con ta ở tiền tuyến đánh Mỹ như thế nào?

Tôi thưa:

– Thưa Bác, cháu thương, cháu nhớ Bác. Tất cả đồng bào dân tộc miền Nam đều thương nhớ Bác.

Sau đó tôi kể Bác nghe một số chuyện chiến đấu của mẹ Giớn, anh Bên, em Thơ…

Bác nói:

– Cuộc kháng chiến của đồng bào miền Nam ta là toàn dân, toàn diện. Trẻ, già, gái, trai, Kinh, Cà Tu, Cà Tang và đồng bào các dân tộc khác đều sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi”.

Tôi hiểu đó là Bác dành tình thương mênh mông của Bác cho tất cả chúng ta.

7. Tấm lòng của Bác với thương binh, liệt sĩ

Ngày 10 tháng 3 năm 1946  báo Cứu quốc đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào Nam Bộ. Trong thư có đoạn Người viết: “Tôi xin kính cẩn cúi chào vong linh các anh chị em đã bỏ thân vì nước và các đồng bào đã hy sinh trong cuộc đấu tranh cho nước nhà. Sự hy sinh đó không phải là uổng”.

Tiếp sau đó, trong Thư gửi đồng bào miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại viết: “Tôi nghiêng mình trước anh  hồn những chiến sĩ và đồng bào Việt Nam đã vì Tổ quốc mà hy sinh anh dũng”.

Hơn nửa tháng sau khi đi Pháp về, ngày 7 tháng 11 năm 1946,  Người đã đến dự lễ “Mùa đông binh sĩ” do Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam tổ chức tại Nhà hát lớn thành phố Hà Nội, vận động đồng bào ở hậu phương đóng góp tiền của để may áo trấn thủ cho chiến sĩ, thương binh, bệnh binh.

Cuộc kháng chiến toàn quốc chống Pháp đã thu hút nhiều thanh niên nam nữ tham gia quân đội. Một số chiến sĩ đã hy sinh anh dũng, một số nữa là thương binh, bệnh binh, đời sống gặp nhiều khó khăn, mặc dầu anh chị em tình nguyện chịu đựng không kêu ca, phàn nàn.

Trước tình hình ấy, tháng 6 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ chọn một ngày nào đó trong năm làm “Ngày thương binh” để đồng bào ta có dịp tỏ lòng hiếu nghĩa, yêu mến thương binh. Có lẽ – trừ những ngày kỷ niệm  quốc tế – “Ngày thương binh” là ngày kỷ niệm trong nước đầu tiên được tổ chức.

Hưởng ứng và đáp lại tấm lòng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một hội nghị trù bị đã khai mạc tại xã Phú Minh, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gồm có một số đại biểu ở Trung ương, khu và tỉnh. Hội  nghị nhất trí lấy ngày 27 tháng 7 hàng năm là ngày thương binh liệt sĩ và tổ chức ngay lần đầu trong năm 1947.

Báo Vệ quốc quân số 11, ra ngày 27 tháng 7 năm 1947 đã đăng thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Thường trực Ban tổ chức ” Ngày thương binh toàn quốc ” Đầu thư Người viết :” Đang khi Tổ quốc lâm nguy, giang sơn, sự nghiệp, mồ mả, đền chùa, nhà  thờ của tổ tiên ta bị uy hiếp. Cha mẹ, anh  em, vợ con, ao vườn, làng mạc ta bị nguy ngập. Ai là người xung phong trước hết để chống cự quân thù? Đó là những chiến sĩ mà nay một số đã thành ra thương binh”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh  giải thích:”thương binh là người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đã chịu ốm yếu, què quặt. Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy “.

Cuối thư, Người vận động đồng bào nhường cơm sẻ áo, giúp đỡ thương binh. Bản thân Người đã xung phong góp chiếc áo lụa, một tháng lương và tiền ăn một bữa của Người và của tất cả các nhân viên của Phủ Chủ tịch, tổng cộng là một ngàn một trăm hai mươi bảy đồng (1.127 đồng) để tặng thương binh.

Năm sau, ngày 27 tháng 7 năm 1948, trong một thư dài đầy tình thương yêu, Bác nói: ” Nạn ngoại xâm như trận lụt to đe dọa tràn ngập cả non sông Tổ quốc, đe dọa cuốn trôi cả tính mệnh, tài sản, chìm đắm cả bố mẹ, vợ con, dân ta. Trong cơn nguy hiểm ấy, số đông thanh niên yêu quý của nước ta quyết đem xương máu của họ đắp thành một bức tường đồng, một con đê vững để ngăn cản nạn ngoại xâm tràn ngập Tổ quốc, làm hại đồng bào”.

Người xót xa viết: ” Họ quyết liều chết chống địch, để cho Tổ quốc và đồng bào sống. Ngày nay, bố mẹ họ mất một người con yêu quý. Vợ trẻ trở nên bà goá. Con dại trở nên mồ côi. Trên bàn thờ gia đình thêm một linh bài tử sĩ. Tay chân tàn phế của thương binh sẽ không mọc lại được. Và những tử sĩ sẽ không thể tái sinh”.

 8. Tấm lòng của Bác

Trong những ngày ra thăm miền Bắc, đoàn anh hùng, dũng sĩ miền Nam được Bác chăm lo, ân cần như cha đối với con. Bác bảo tôi ( vì tôi được phụ trách theo dõi sức khoẻ và đời sống của đoàn):

– Cô Bi phải chăm sóc các cô, các chú ấy thật tốt, đừng để các cô các chú ấy ốm.

Một bữa, đồng chí Huỳnh Văn Đảnh bị sốt rét, Bác biết được, gọi tôi lên hỏi:

– Chú Đảnh bị sốt ra sao?

Tôi báo cáo tình hình của đồng chí Đảnh cho Bác. Bác nhắc:

– Cô phải cho các cô, các chú ấy ăn uống đầy đủ, chú ý các món ăn của địa phương để các cô, các chú ấy ăn được nhiều, sức khỏe mới tốt.

Một hôm khác, Bác chỉ vào Trần Dưỡng và hỏi tôi:

– Cô Bi, tại sao chú Dưỡng hơi gầy?

Bác nghe anh hùng Vai kể chuyện quê hương miền núi nghèo khổ của mình. Bác cảm động nói:

– Thống nhất Bác vô Nam, thế nào cũng về thăm quê hương cháu Vai.

Trong những ngày sống bên Bác, tôi càng thấm thía hơn tình cảm của Bác đối với đồng bào miền Nam. Chị Tạ Thị Kiều nói với tôi:

– Càng được gần Bác, càng thấy Bác thương yêu dân miền Nam ta quá chị à.

Nói xong, hai chị em lại khóc vì sung sướng và cảm động trước tấm lòng của Bác Hồ.

 9. Bác Hồ tắm cho trẻ ở Việt Bắc

Hơn một năm xa Tổ quốc, trải qua ngót ba chục nhà tù của Tưởng Giới Thạch gần khắp Quảng Tây, Bác Hồ trở về Pắc Bó cuối năm 1944.

Nhìn thấy việc giữ vệ sinh nước  ăn và nơi ở chưa được dân ở đây chú ý, Bác bảo chúng tôi cùng Bác bắt tay dọn dẹp. Một buổi sáng Bác bảo các cháu xếp hàng đi ra phía khe nước.

Người tự tay cởi quần áo cho các cháu bé, lần lượt  tắm rửa, kỳ cọ cho từng cháu. Chúng vừa tắm, vừa đùa, bắn cả nước vào mặt Bác.

Trong số bọn trẻ được Bác tắm cho hôm  đó có cháu Thân (con trai tôi) chốc đầu, tóc dính bết. Tắm gội xong, Bác còn làm thuốc dịt cho. Thuốc xót, thấy cháu kêu, Bác Hồ dỗ dành ngọt ngào:

– Không sao,  chỉ một lát là hết xót ngay thôi cháu ạ.

Rồi Bác nói với đám thanh niên chúng tôi đứng quanh đó:

– Các cô,  các chú, vợ chồng còn trẻ phải giữ gìn quanh năm sạch sẽ cho con cái, bệnh ghẻ lây nhanh lắm đấy, thật khổ cho cháu tôi.

Chúng tôi im lặng, cảm động. Trông thấy mấy cháu mặc quần áo bẩn và rách, Bác không vui:

Các cháu này con cô chú nào đây. Lấy áo sạch thay cho trẻ, còn mang quần áo bẩn đi giặt, chỗ nào rách thì khâu lại.

Bà cố tôi gần một trăm tuổi, nghe vậy xuýt xoa thán phục,  nói:

– Ông già này là con người quý giá lắm đấy.

Rồi bà cố bảo bố tôi bưng một bát cháo có đánh trứng gà lại mời Bác Hồ. Bác tỏ vẻ không bằng lòng:

– Các đồng chí làm cách mạng, tôi cũng làm cách mạng, tại sao tôi được ăn đặc biệt hơn  các đồng chí?

Và Người đứng dậy bê bát cháo trứng gà mời cố tôi ăn và nói:

– Đây mới là người cần được đặc biệt bồi dưỡng. Bà đã sống gần trăm tuổi rồi, khổ cực nhiều nhiều, cần ăn cho khoẻ để sống đến ngày đất nước độc lập, vui hưởng thái bình.

Bác Hồ – hai tiếng thật thiêng liêng và gần gũi với mỗi con người chúng ta. Bác Hồ là kết tinh của tâm hồn dân tộc, là đài sen tỏa ngát Làng Sen. Là một vị lãnh tụ nhưng Bác luôn coi khinh sự xa hoa, suốt đời giữ một nếp sống thanh bạch, tao nhã, giản dị, luôn một lòng một dạ sống vì nhân dân, đặt quyền lợi của nhân dân lên cao nhất. Cuộc đời Người lung linh, huyền ảo như những trang huyền thoại. Câu chuyện “Hỡi ai bưng bát cơm đầy” thể hiện khá sinh động về tình yêu thương con người của Bác. Câu chuyện xảy ra khi Bác 70 tuổi.


Bác Hồ thăm nhân dân xã Nam Cường, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào tháng 3-1962

Vào một buổi sáng Hè năm 1960, sau khi dự Đại hội Đoàn kết chống hạn tại Ứng Hòa – Mỹ Đức xong, Bác ra cánh đồng thôn Thái Bình thăm nông dân chống hạn.

Những năm ấy, vì hệ thống mương máng thủy lợi chưa có là bao nên bà con nông dân rất vất vả, nắng quá thì hạn, mưa nhiều thì úng. Đời sống của hàng triệu nông dân chỉ trông chờ ở đồng ruộng, thật bấp bênh.

Hôm ấy, Bác mặc quần áo gụ, đội mũ lá cọ, chân đi dép cao su, quần xắn trên đầu gối, khăn khoác trên vai, tay chống gậy đi ra cánh đồng thăm bà con nông dân đang tát nước.

Mới mười giờ mà trời nắng như đổ lửa, những cán bộ đi theo cũng thấm mệt, mồ hôi vã như tắm tràn xuống mắt giàn giụa, tràn vào miệng mặn chát. Bác đi rất nhanh, mặc dầu đường sống trâu, Bác vẫn thoăn thoắt đặt chân trên các gồ đất một các nhẹ nhàng như một lão nông thực thụ. Đến đầu một con mương, đồng chí Chủ tịch tỉnh Hà Đông thấy bờ mương hẹp, khó đi, vội chạy lên trước để mời Bác đi theo đường chính. Bác xua tay và rẽ vào bờ mương để đến chân ruộng bà con đang lao động giữa cánh đồng bị hạn. Đến chỗ một bờ mương bị xẻ ra tát nước gần đấy, đồng chí Chủ tịch tỉnh chạy lên định dắt Bác, chưa kịp thì Bác đã nhảy phắt qua hố và rẽ sang bên kia. Những người đi theo sau, người thì nhảy qua được, người thì phải đi men xuống ruộng để qua.

Thấy Bác đến, lại còn mặc như lão nông, bà con vui mừng bỏ cả gầu đổ xô lại, vây quanh Bác rất đông. Có cháu thiếu niên chừng 14,15 tuổi len đến bên Bác, đưa tay lên vuốt râu Bác. Bác thân mật thăm hỏi mọi người, bắt tay bà con, rồi nói bằng giọng miền Bắc pha xứ Nghệ ấm áp:

Thuở nhỏ, đã nhiều năm, tôi sống với bà con làng xóm làm nông nghiệp, tôi hiểu cơ cực của bà con khi trời hạn hán. Bây giờ, chúng ta có chính quyền, bà con đã làm chủ ruộng đồng, gặp lúc thiên tai, phải cùng nhau chống hạn, cứu lúa.

Mọi người “vâng ạ!” thật rõ và to.

Sau đó, Bác lên đạp guồng nước cùng với một bác nông dân ngoài 50 tuổi để bác nông dân đỡ vất vả và được nhiều nước. Bác căn dặn chính quyền thôn, xã tích cực huy động bà con nghề mộc, xẻ gỗ để đóng guồng.

Bà con hỏi Bác đủ thứ chuyện Bác đều trả lời thân mật dễ hiểu; trước khi chia tay với bà con nông dân, Bác đã đọc hai câu thơ:

“Hỡi ai bưng bát cơm đầy

Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”

Mọi người xúc động đứng mãi tại nơi đã gặp Bác, vẫy tay chào tạm biệt.

Câu chuyện trên là bài học lớn về tình thương yêu con người nói chung và người nông dân Việt Nam nói riêng. Người nông dân quanh năm vất vả, tay lấm chân bùn, một nắng hai sương chống chọi với thiên tai để làm ra hạt gạo sẻ chia với chiến trường miền Nam khốc liệt. Cùng đổ mồ hôi với người nông dân khi hạn hán mới quý hạt gạo, củ khoai; mới xót lòng khi bão lũ ập đến cướp đi thành quả lao động vất vả của người dân trên ruộng đồng.

Bác là thế! Ngay sau khi giành được chính quyền, tuy bận trăm công nghìn việc Bác vẫn dành nhiều thời gian, không chỉ nhắc nhở các địa phương đắp đê chống bão lụt, mà còn trực tiếp xuống tận các xã để đôn đốc, kiểm tra công việc. Cứ đến mùa nước lũ, hay kỳ hạn hán Bác thường trực tiếp xuống địa phương tham gia “chống trời” cùng nhân dân. Lần Bác về Hải Hưng tham gia chống hạn với nông dân, nghe tin Bác về các đồng chí cán bộ Tỉnh tổ chức đón Bác long trọng. Bác không hài lòng, Bác phê bình ngay: “Bác về là đi chống hạn chứ có phải đi chơi đâu mà đón tiếp”. Bác ăn mặc quần áo như một lão nông thực sự, Người đi rất nhanh đến chỗ nhân dân đang đào mương, xắn quần, xắn tay áo xuống cùng đào đất với bà con để lại phía sau các “quan cách mạng” trong những bộ quần áo bảnh bao đang lúng túng hổ thẹn trước dân chúng; cuối cùng tất cả cùng ào xuống đào đất với bà con theo gương Bác.

Qua câu chuyện trên mỗi người chúng ta càng thấm thía và nhận thức sâu sắc hơn về đức tính giản dị, không ngại khó, ngại khổ, gần gũi gắn bó với nhân dân, cảm thông và chia sẻ sâu sắc với nỗi cơ cực của người nông dân. Hình ảnh Bác quần xắn trên đầu gối, khăn vắt trên vai, tay chống gậy đi ra cánh đồng thăm nông dân, cùng đạp guồng nước với người nông dân, chỉ bảo ân cần cho người dân và chỉ đạo chính quyền địa phương, các ngành chức năng giải quyết những khó khăn, bất cập của người dân một cách hiệu quả… Tất cả những điều đó đã thể hiện một nhân cách lớn: Nhân ái, vị tha, khoan dung, nhân hậu, hết mực vì con người.

Những phẩm chất tốt đẹp của Người còn sống mãi với thời gian và tiếp tục học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là niềm tin, là động lực để chúng ta nhận thức rõ hơn về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, qua đó, quyết tâm xây dựng chính quyền các cấp của tỉnh An Giang “liêm chính, kỷ cương, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân”.

PHIM VỀ BÁC

 

Những tác phẩm điện ảnh về Bác Hồ

*.Chủ tịch Hồ Chí Minh là một đề tài lớn của văn học nghệ thuật (VHNT). Hình tượng Bác Hồ là niềm cảm hứng sáng tạo của các thế hệ văn nghệ sĩ Việt Nam và nhiều bạn bè quốc tế, trong đó có các nhà làm phim.

1.Hẹn gặp lại ở Sài Gòn

Cuối năm 1986, sau khi làm xong bộ phim Biệt động Sài Gòn, đạo diễn Long Vân nảy ra ý định làm một bộ phim về Bác Hồ, lấy bối cảnh chiến dịch Biên giới. Nhưng dự án có vẻ chưa chín muồi, hơi gấp gáp về thời gian và các điều kiện làm phim. Ông được nhà văn Sơn Tùng đưa cho đọc tiểu thuyết Búp sen xanh, Bông sen vàng và kịch bản Con đường năm ấy. Từ đó, Long Vân đã nhìn ra những chất liệu sinh động và phong phú cho một bộ phim lịch sử lớn về Bác Hồ thời trẻ.

2.Hà Nội mùa đông năm 46

Bộ phim Hà Nội mùa đông năm 46 đưa người xem ngược thời gian trở lại thủ đô vào quãng thời gian vô cùng căng thẳng trước ngày toàn quốc kháng chiến, khi thế nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”. Lúc này, thực dân Pháp đã lộ rõ âm mưu xâm lược Việt Nam một lẫn nữa.

Giữa những thời khắc quyết định vận mệnh của cả dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những quyết sách vô cùng sáng suốt. Những cuộc đấu trí giữa một bên là những người yêu nước và bên kia là những kẻ xâm lược diễn ra vô cùng gay cấn.

Đạo diễn tài năng Đặng Nhật Minh cùng dàn diễn viên xuất sắc đã làm nên một câu chuyện điện ảnh gây nhiều xúc động về Bác. Bộ phim cũng gây tiếng vang lớn tại nhiều liên hoan phim trong nước và quốc tế.

3.Vượt qua bến Thượng Hải

Bộ phim Vượt qua bến Thượng Hải lấy bối cảnh Trung Quốc vào khoảng năm 1933. Thời gian đó Bác từ Hong Kong tới Thượng Hải, tìm đường sang Liên Xô để né tránh sự săn lùng của mật thám Pháp và chính quyền Tưởng Giới Thạch. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tạm lánh trong dinh thự của ông Long – một người Hoa giàu có ở thành phố Hạ Môn.

NHỮNG BỨC ẢNH HIẾM HOI CỦA BÁC HỒ

 

Ảnh bác Hồ đen trắng đẹp

Ảnh bác Hồ đen trắng đẹp

Ảnh bác Hồ kính yêu đẹp nhất

Ảnh bác Hồ kính yêu đẹp nhất

Ảnh bác Hồ thời trẻ đẹp nhất

Ảnh bác Hồ thời trẻ đẹp nhất

Ảnh bác Hồ với nhân dân

Ảnh bác Hồ với nhân dân

Ảnh chân dung bác Hồ

Ảnh chân dung bác Hồ

Ảnh của bác Hồ đẹp

Ảnh của bác Hồ đẹp

Ảnh của bác Hồ

Ảnh của bác Hồ

Ảnh đen trắng về bác Hồ đẹp nhất

Ảnh đen trắng về bác Hồ đẹp nhất

Ảnh đẹp bác Hồ cùng thiếu nhi

Ảnh đẹp bác Hồ cùng thiếu nhi

Ảnh đẹp bác Hồ cười tươi

Ảnh đẹp bác Hồ cười tươi

Ảnh đẹp bác Hồ đi công tác

Ảnh đẹp bác Hồ đi công tác

Ảnh đẹp bác Hồ đọc báo

Ảnh đẹp bác Hồ đọc báo

Ảnh đẹp bác Hồ giản dị

Ảnh đẹp bác Hồ giản dị

Ảnh đẹp bác Hồ với chiến sĩ

Ảnh đẹp bác Hồ với chiến sĩ

Ảnh đẹp bác Hồ với đồng bào dân tộc

Ảnh đẹp bác Hồ với đồng bào dân tộc

Ảnh đẹp bác Hồ với thiếu nhi đẹp nhất

Ảnh đẹp bác Hồ với thiếu nhi đẹp nhất

Ảnh đẹp nhất của bác Hồ

Ảnh đẹp nhất của bác Hồ

Ảnh đẹp về bác Hồ

Ảnh đẹp về bác Hồ

Ảnh màu bác Hồ đẹp nhất

Ảnh màu bác Hồ đẹp nhất

Ảnh màu về bác Hồ đẹp nhất

Ảnh màu về bác Hồ đẹp nhất

Ảnh tranh vẽ bác Hồ đẹp

Ảnh tranh vẽ bác Hồ đẹp

Ảnh vẻ đẹp của bác Hồ với dân

Ảnh vẻ đẹp của bác Hồ với dân

Bức ảnh về bác Hồ đẹp

Bức ảnh về bác Hồ đẹp

Các hình ảnh về bác Hồ

Các hình ảnh về bác Hồ

Hình ảnh bác Hồ bên bàn làm việc

Hình ảnh bác Hồ bên bàn làm việc

Hình ảnh bác Hồ cỡ lớn đẹp

Hình ảnh bác Hồ cỡ lớn đẹp

Hình ảnh bác Hồ cùng đồng bào

Hình ảnh bác Hồ cùng đồng bào

Hình ảnh bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh bác Hồ đẹp

Hình ảnh bác Hồ đẹp

Hình ảnh bác Hồ đi công tác

ADVERTISEMENT

Hình ảnh bác Hồ đi công tác

Hình ảnh bác Hồ ngồi ghế mây

Hình ảnh bác Hồ ngồi ghế mây

Hình ảnh bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

Hình ảnh bác Hồ ở chiến khu Việt Bắc

Hình ảnh bác Hồ ở Pháp

Hình ảnh bác Hồ ở Pháp

Hình ảnh bác Hồ và hoa sen

Hình ảnh bác Hồ và hoa sen

Hình ảnh bác Hồ

Hình ảnh bác Hồ

Hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh đẹp

Hình ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh đẹp

Hình ảnh đẹp bác Hồ hoạt động cách mạng

Hình ảnh đẹp bác Hồ hoạt động cách mạng

Hình ảnh đẹp bác Hồ làm việc

Hình ảnh đẹp bác Hồ làm việc

Hình ảnh đẹp bác Hồ ở Đại Hội

Hình ảnh đẹp bác Hồ ở Đại Hội

Hình ảnh đẹp bác Hồ với chiến sĩ

Hình ảnh đẹp bác Hồ với chiến sĩ

Hình ảnh đẹp bác Hồ với trẻ em

Hình ảnh đẹp bác Hồ với trẻ em

Hình ảnh đời thường của bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh đời thường của bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh ghép bác hồ đẹp nhất

Hình ảnh ghép bác hồ đẹp nhất

Hình ảnh lăng bác Hồ

Hình ảnh lăng bác Hồ

Hình ảnh lưu niệm bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh lưu niệm bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh lưu niệm của bác Hồ

Hình ảnh lưu niệm của bác Hồ

Hình ảnh màu về bác Hồ

Hình ảnh màu về bác Hồ

Hình ảnh vẽ bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh vẽ bác Hồ đẹp nhất

Hình ảnh vẽ bác Hồ

Hình ảnh vẽ bác Hồ

Những ảnh đẹp về bác Hồ

Những ảnh đẹp về bác Hồ

Những hình ảnh về bác Hồ

Những hình ảnh về bác Hồ

Tải ảnh bác Hồ

THƠ VỀ BÁC HỒ DO NHÂN DÂN SÁNG TÁC

Top những bài thơ hay nhất về bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất? Thơ về Bác? Thơ về vị cha già dân tộc? Thơ về lãnh tụ kính yêu?

Top những bài thơ hay nhất về bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất
Có những bài thơ nào hay về Bác Hồ nhỉ?

Bác Hồ là vị cha già dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại của nước Việt Nam ta. Người có công rất lớn trong sự nghiệp giải phóng và thống nhất đất nước. Ngoài là một nhà cách mạng vĩ đại thì Bác của chúng ta còn là một trong những nhà thơ khét tiếng thời bấy giờ, Bác để lại cho chúng ta rất nhiều bài thơ hay như là: Nhật Ký Trong Tù, Tức cảnh pác pó, Việt Nam độc lập, … Và bài viết này vforum sẽ không đề cập đến những bài thơ của Bác mà sẽ đề cập đến Những bài thơ hay nhất về Bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất? SAu đây hãy cùng vforum tìm hiểu nhé.

Top những bài thơ hay nhất về bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất

1.Theo Lời Bác Dặn

Bốn mươi năm trước Bác “đi xa”
Cả nước đau thương mắt lệ nhoà
Ngoài Bắc mưa tuôn – trời vĩnh biệt
Trong Nam gió nổi – đất chia xa.
Năm châu bè bạn cùng đưa tiễn
Bốn biển đồng bào kính viếng hoa
Thương nhớ Bác Hồ – Dân, Đảng quyết
Làm theo di chúc, nước vinh hoà.

Làm theo di chúc nước vinh hoà
Tự do, độc lập giải sơn hà
Giao lưu thế giới – trời xanh lại
Hội nhập toàn cầu – đất nở hoa.
Xoá đói, giảm nghèo Dân hạnh phúc
Diệt tham, trừ nhũng Đảng tăng đà
Bốn mươi năm chẵn theo lời dặn
Di chúc Bác Hồ – nước tiến xa.

Bài thơ nói về lúc Bác “đi xa” mãi mãi, không chỉ con dân trong nước đau buồn, mà “năm châu bạn bè cùng đưa tiễn”. Khi ra đi Bác có để lại di chúc và muốn mọi người “làm theo di chúc” để đất nước chúng ta ngày càng phát triển và không có những hoàn cảnh nghèo cơ cực nữa.

2. Ảnh Bác

Nhà em treo ảnh Bác Hồ
Bên trên là một lá cờ đỏ tươi
Ngày ngày Bác mỉm miệng cười
Bác nhìn chúng cháu vui chơi trong nhà
Ngoài sân có mấy con gà
Ngoài vườn có mấy quả na chín rồi
Em nghe như Bác dạy lời
Cháu ơi đừng có chơi bời đâu xa
Trồng rau, quét bếp, đuổi gà
Thấy tàu bay Mỹ nhớ ra hầm ngồi
Bác lo bao việc trên đời
Ngày ngày Bác vẫn mỉm cười với em…

Bài thơ này của tác giả Trần Đăng Khoa. Đọc bài thơ trên, chúng ta thấy hình tượng BácHồ đi vào thơ của cậu bé Trần Đăng Khoa một cách gần gũi và hết sức dung dị. Bởi vì Bác rất vĩ đại nhưng đối với thiếu nh iBác như một ông tiên, hiền từ, gần gũi, ấm áp.

3. Bác

I
Những trang sử xưa cho con yêu chân thật
Nhân nghĩa của cha ông
Những trang sử xưa cho con tự hào hết mức
Hùng khí non sông
Trong những ngày đầu tưởng đời mình sẽ thiếu Bác
Con tìm về những điều đã gặp
Trong trang sách xưa
Con lại được có Bác! Bác Hồ.
Từ Hùng Vương tính đi
Dài lắm, nhiều khi con chưa đủ hiểu
Những điều cha ông gửi lại cho đời sau
Hôm nay bỗng vào gần với nhau
Những yêu thương, những đau khổ,
Những mốc thời gian ghi vinh quang
Thành giản đơn
Cho hôm nay con gặp cả
Ở ngay trong lòng mình
Cùng lúc nhìn vào thấy vầng trán Bác!

II
Thật sự lớn rồi con biết lo toan nhiều việc
Công việc của con như là biết nói;
Hạt gạo thành rồi nói về một nắng hai sương
Quả ngọt quả ngon nói về mồ hôi, thời vụ
Nhà máy lớn lên trong mùa gian khổ
Rạo rực những tiếng tương lai
Đường mới mở ra không nói về chiều dài
Nói về đích của mình là tuyền tuyến…
Con trở về những điều con hằng nghe xao xuyến
Thấy tất cả cùng nói một nỗi: miền Nam!

*
Hạt gạo, quả ngon là tiếng yêu thương,
Nhà máy là tiếng của niềm chia xẻ,
Con đường là tiếng thân gần hơn cả
Tiếng thiết tha đưa mình tới chốn mình đi
Con nghe, con nghe… để được thấy Bác, Bác Hồ!
(Bác hay nói miền Nam trong tim Bác)
Ôi trong ấy, trong tất cả ấy lại là nhịp tim của Bác
Cái công việc con làm, công việc con yêu!

III
Thật sự lớn rồi con biết gọi Bác
Cho quân thù phải sợ con.
Dù chúng thù ghét con, chúng còn phải hiểu
Bác trong lòng con là khô mấy cũng làm
Bác trong lòng con là gian nan nào cũng vượt
Bác trong lòng con là dù phải là đốt cháy cả Trường Sơn
Cũng phải giết hết giặc!

*
Bác ở trong lòng con rồi, rất thật
Quân thù nhìn con điên cuồng thù ghét
Con thấy lòng mình hiền minh,
Quân thù tấn công con độc ác
Con vẫn lớn lên chân chất dịu dàng
Bác ở trong lòng con rồi! Tóc Bác như bông
Tóc Bác như một vầng nhân nghĩa.

IV
Còn phải thông nhất Bắc – Nam
Mới dồn cả sức làm cho non sông to đẹp
Nhưng có Bác trong lòng
Ôi! Tim con, tim con cứ đập đập dồn
Như thể sắp đến nơi hẹn hò đến!
Con sẽ gặp những điều đẹp hơn hôm nay mộng tưởng
Con cũng không e thẹn rụt rè,
Những cái con gặp con quý hơn hôm nay con nghĩ ra
Con cũng tự nhiên mà đón lấy.
Bởi hôm nay con biết bảo mình
Ngày mai đấy!

Khi quanh con tất cả vẫn hôm nay vậy
Nhìn cây xanh kẻ vô tư có thể hiểu là bình yên
Nhìn bình minh kẻ xa lạ có khi nghĩ đến màu máu
Nhưng con hiểu hôm nay là chiến đấu
Hôm nay là hy sinh.
Và tim con cứ đập dập dồn
Biết chắc ngày mai đang gần lại!
Xúc động lớn và sâu xa đến vậy
Lại từ ngày lòng con
Nơi có ánh mắt như sao của Bác!

Bài thơ “Bác” có tổng cộng 5 chương, mỗi chương nói về một vấn đề riêng, tuy nhiên chung quy lại thì cũng nói về hình ảnh của người cha già vĩ đại của dân tộc đã xả thân vì nước vì dân mà chúng ta mới có thể ấm no, hạnh phúc như hôm nay.

Top những bài thơ hay nhất về bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất

4. Bác Hồ Nhắc Nhở Trồng Cây

Ai về bóng mát đường trưa
Xoan lên tám thước nhãn vừa tới vai.
Trồng chen lấy ngắn nuôi dài:
Dứa quây với nhãn, chuối cài với xoan.
Vườn ươm mấy luống song hàng
Mới lên trám nhỏ mịn màng lá tơ.
Gặt mùa phơi thóc vừa khô
Lại nghe Bác Hồ nhắc nhở trồng cây.

Bác lo áo ấm cơm đầy
Chăm nom giấy bút cho bầy cháu thơ…
Biển sông lòng Bác bây giờ
Lại chăm đến gỗ làm kho, dựng trường.
Bác lo đến tủ đến giường,
Chuôi dao trước mắt, con đường mai sau.
Bác đi, tóc bạc điểm màu
Ngẩng trông tứ phía – đếm đầu cây xanh.
Bác khuyên gái giỏi trai lành
Chăm sao vàng gốc tươi nhành mỗi cây.

Mai kia đẵn xuống gỗ này
Song song cánh cửa đẹp tày lứa đôi;
Nhà cao cột sánh vai người
Thơm hương thớ gỗ tạc lời Bác khuyên.

Bài thơ này là lời khuyên nhắc nhở trồng cây để có một môi trường xanh, sạch, đẹp và con người khỏe mạnh. Qua đó tác giả còn có ngụ ý giúp ta nhớ lại hình ảnh Bác Hồ giản dị, ân cần và dạy dỗ ta những điều hay lẽ phải.

5. Bác Ơi

Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

Con lại lần theo lối sỏi quen
Đến bên thang gác, đứng nhìn lên
Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!
Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời
Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội
Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!

Trái bưởi kia vàng ngọt với ai
Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!
Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm
Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

Ôi, phải chi lòng được thảnh thơi
Năm canh bớt nặng nỗi thương đời
Bác ơi, tim Bác mênh mông thế
Ôm cả non sông, mọi kiếp người.

Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau
Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu
Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ
Cho hôm nay và cho mai sau…

Bác sống như trời đất của ta
Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa
Tự do cho mỗi đời nô lệ
Sữa để em thơ, lụa tặng già

Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà
Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha
Bác nghe từng bước trên tiền tuyến
Lắng mỗi tin mừng tiếng súng xa.

Bác vui như ánh buổi bình minh
Vui mỗi mầm non, trái chín cành
Vui tiếng ca chung hoà bốn biển
Nâng niu tất cả chỉ quên mình.

Bác để tình thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều
Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu?
Ra đi, Bác dặn: “Còn non nước…”
Nghĩa nặng, lòng không dám khóc nhiều

Bác đã lên đường theo tổ tiên
Mác – Lênin, thế giới Người hiền
Ánh hào quang đỏ thêm sông núi
Dắt chúng con cùng nhau tiến lên!

Nhớ đôi dép cũ nặng công ơn
Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn
Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi
Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.

Bài “Bác ơi!” là tiếng khóc tiễn biệt, mang ý nghĩa như một bài điếu văn rất cảm động, vừa ca ngợi lòng yêu nước thương dân bao la của Bác Hồ, vừa biểu lộ lòng tiếc thương, ghi nhớ công ơn to lớn của lãnh tụ. Mở đầu bài thơ là tiếng khóc. Bác Hồ qua đời để lại nổi đau thương trong lòng hàng triệu đồng bào ta và bạn bè gần xa. Nỗi đau thương trùm cả cõi đời và cả vũ trụ bao la, mênh mông.

6. Cây Bác Hồ

Mười năm về trước chưa sinh con
Khắp cả vùng đây đất xói mòn
Đá sỏi đồi hoang cây chẳng mọc
Xuân về không hé chút mầm non

Vâng theo lời Bác, Tết trồng cây
Từ đấy cành xanh, nhánh biếc đầy
Dương liễu đằng xa, dăng lưới lục
Bạch đàn loang loáng trắng quanh đây

Theo đội con trai cha trồng vải
Hàng vải sum suê gió thổi lùa
Mẹ theo đội con gái đi trồng nhãn
Khóm nhãn ra hoa đã mấy mùa

Các chị em con có bóng xanh
Có chim ríu rít rộn trên cành
Có hoa thơm ngát bay theo gió
Khiến bầy ong kiếm mật vây quanh

Tháng năm ăn vải, tháng sáu ăn nhãn
Nhặt lá vun cành, lượm củi khô
Trưa chơi bóng mát, đêm trăng sáng
Tất cả là ơn của Bác Hồ

Bác mênh mông quá, phải không con?
Như cả đất trời, cả núi non
Như lá hoa bốn mùa tươi tốt
Như rễ sâu tận đáy tâm hồn

Yêu Bác các con chăm đi học
Giữ gìn nụ biếc lá non xanh
Lớn lên góp sức cùng anh chị
Bảo vệ quê hương đất nước mình

Và mỗi lần các con nhớ Bác
Các con im lặng ngẩng đầu lên:
Một vùng ánh sáng soi trên ngọn
Lộng gió từng cao – Bác ở trên…

Bài thơ nói về một người nông dân nghe theo lời Bác Hồ trồng cây và mười năm sau thì đã có kết quả tốt về kinh tế. Bài thơ cũng là lời cảm ơn sâu sắc của người nông dân gửi đến vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc.

7. Cháu Bác Hồ Là Cháu Oanh Liệt

Cháu Bác Hồ thật là oanh liệt
Giữ bí mật dù chết không khai
Cứu cán bộ khỏi giặc Tây
Các em kháng chiến ngày càng hang

“Cháu Bác Hồ là cháu oanh liệt” đã để hiện được dũng khi của những ngưới lính bộ đội cụ Hồ. Dù cho có đánh đổi cả tính mạng cũng “giữ bí mật” của quốc giả. Xứng đáng là “cháu bác Hồ oanh liệt”.

8. Cháu Nhớ Bác Hồ

Đêm nay bên bến Ô Lâu
Cháu ngồi cháu nhớ chòm râu Bác Hồ
Nhớ hình Bác giữa bóng cờ
Hồng hào đôi má, bạc phơ mái đầu
Mắt hiền sáng rực như sao
Bác nhìn tận đến Cà Mau sáng ngời
Nhớ khi trăng sáng đầy trời
Trung thu bác gởi những lời vào thăm
Nhớ ngày quê cháu tan hoang
Lụt trôi, Bác gởi lúa vàng vào cho
Nhớ khi nhà cháu ra tro
Bác đưa bộ đội về lo che giùm
Bác ơi nhớ mấy cho cùng
Ngoài xa Bác có thấu lòng cháu không.
Đêm đêm cháu những bâng khuâng
Giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu
Nhìn mắt sáng, nhìn chòm râu
Nhìn vầng trán rộng, nhìn đầu bạc phơ
Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ
Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn
Bác ơi dù cách núi non
Mà hình Bác vẫn trong lòng không xa
Giặc kia muốn cắt sơn hà
Mà miền Nam vẫn hướng ra Bác Hồ,
Hướng về sắc đỏ ngọn cờ
Về ngày Nam Bắc cõi bờ liền nhau.
Đêm nằm cháu những chiêm bao
Ngày vui thống nhất Bác vào miền Nam.
Cổng chào dựng chật đường quan
Bác đến đình làng Bác đứng trên cao
Bác cười thân mật biết bao
Bác dặn đồng bào cặn kẽ từng câu
Ung dung Bác vuốt chòm râu
Bác xoa đầu cháu, Bác âu yếm cười.
Đêm nay trăng lại sáng rồi
Trung thu nhớ bác cháu ngồi cháu trông
Ngoài xa nghe tiếng trống rung
Nghe những nhi đồng nhảy múa hò reo
Bác chắc cũng nhớ cháu nghèo
Miền Nam đau khổ sớm chiều trông ra.

Hình ảnh Bác hiện lên đẹp như một ông tiên trong truyện cổ tích, gần gũi, thân thương, hiền từ: Mái đầu bạc phơ, đôi má hồng hào, chòm râu dài, đôi mắt hiền mà sáng như sao” được thông qua những chi tiết: “ Cháu ngồi cháu nhớ chòm râu Bác Hồ”; “Nhớ hình Bác giữa bóng cờ”; “Đêm nay cháu những bâng khuâng, giở xem ảnh Bác cất thầm bấy lâu”; “Càng nhìn càng lại ngẩn ngơ”; “Ôm hôn ảnh Bác mà ngờ Bác hôn”.

9. Chúng Cháu Canh Giấc Bác Ngủ

“Trăng vào cửa sổ đòi thơ”
Bác vừa chợp mắt, xin chờ trăng ơi!

Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng trăng ơi, hãy yên lặng cúi đầu…
Trọn cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ, chúng ta canh giấc ngủ.

Hỡi ai đó, không được rời đội ngũ
Theo hàng hai, đi lặng lẽ tiến dần
Đừng khóc oà, hãy rón rén bàn chân
Bước nhẹ nữa. Bác Hồ vừa chợp mắt
Bác nằm đó, bộ ka-ki Bác mặc
Chưa kịp thay, Người vừa ngả lưng nằm.
Nếu ta đoán không lầm; Bác mới đi thăm
Một xóm thợ, xem nơi ăn chốn nghỉ…
Nhưng không phải – vì khi ta ngắm kỹ
Trên má Bác Hồ còn in dấu chiếc hôn
Các cháu nhi đồng lớp học đầu thôn
Được Bác ghé thăm, Bác cho bá cổ…

Hỡi ai đó, cắn chặt môi, hãy cố
Đừng để cho tiếng nấc động tai Người.
Bác Hồ vừa chợp mắt ngủ đó thôi
Trước giường Bác, ta nghẹn ngào đứng ngắm
Mái tóc Bác lẫn với mầu gối trắng
Râu Bác thưa cũng bạc trắng một mầu,
Ta muốn làm con nhỏ vuốt chòm râu
Từng sợi bạc dãi dầu sương, nắng, gió.
Đôi dép lốp như cùng ta kể rõ
Người quên Người, dành hết thảy cho ta!
Từ có Bác Hồ, thêm rạng rỡ ông cha
Tên của Bác đẹp thắm trang lịch sử.
Ta đứng lặng trước giấc Người yên Ngủ!
Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng trăng ơi, hãy yên lặng cúi đầu…
Trọn cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ, chúng ta canh giấc ngủ.

Hỡi ai đó, đừng gục đầu ủ rũ
Bác dặn ta: nhớ Bác phải vươn mình
Giường Bác nằm chiếu sáng giữa trăng thanh,
Chiếc giường một suốt đời, ta nhớ mãi…
Cạnh nách Bác, đồng chí đi bên ơi, có phải
Ta nhìn như chiếc quạt Bác hay dùng
Chiếc quạt quê nhà, Bác vẫn giắt lưng!
Cùng với khúc ca dao ngọt ngào, Bác thuộc.
Bên gối Bác còn ấm lời non nước
Ánh hào quang sông núi tụ trên mình
Bác chan hoà như biển lớn mông mênh
Hồn dân tộc kết tinh hồn thời đại…

Hỡi ai đó, như trẻ thơ khóc mãi
Hãy lau khô đừng để lệ chảy tràn
Bác không muốn ta chìm trong biển lệ khóc than
Trước khi ngủ, Bác dặn dò tha thiết
Vầng trán Bác in giấc mơ tuyệt đẹp!
Hãy đọc trong mi mắt khép: nụ cười,
Bác Hồ nằm, tay không để buông xuôi
Đặt trước ngực như khi Người dạo mát.
Ôi ta nhơ hai bàn tay của Bác
Vỗ nhịp cho cả nước hát Kết Đoàn.
Ngày mai đây khi giải phóng Miền Nam
Cả nước hát, vắng bàn tay Bác vỗ…
Ta đứng lặng trước giấc Người yên ngủ!
Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa
Trăng trăng ơi, hãy yên lặng cúi đầu…
Trọn cuộc đời Bác có ngủ yên đâu
Nay Bác ngủ, chúng ta canh giấc ngủ.

Hỡi ai đó, từ Cà Mau về đủ
Tạm dừng bên nhường bước bạn bè xa
Hỏi có ai giàu hơn Bác Hồ ta
Người chợp mắt, cả năm châu cùng đến
Trên giường Bác, chúng tôi không thắp nến
Đã có trăng sao ôm ấp quanh Người
Bác yêu trăng như yêu một con người
Trong thơ Bác, trăng với hoa là bạn
Giao thừa tới từ nay đâu tiếng Bác
Chúc đồng bào chiến sĩ, giọng ngân vang
Giọng của Bác Hồ làm ấm cả không gian
Nghìn thế hệ mai đây còn ấp ủ…

Hỡi ai đó, xiết chặt thêm đội ngũ
Người vẫy ta kia, môi Bác mỉm cười
Bác giữa Ba Đình rực rỡ nắng tươi
Trong tim óc chúng ta, Người vẫn sống
Bác dẫu ngủ, kẻ thù đừng hy vọng
Ánh sáng Hồ Chí Minh mãi mãi soi đời
Bác thức tỉnh ta: giữ lấy kiếp người
Ta thức tỉnh, nguyện bên Người vĩnh viễn
Xin Bác ngủ giữa dòng đời lưu luyến
Với Mác Lênin, giấc ngủ nghìn đời
Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi…

Tác giả của bài thơ “Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi” đã mượn lời người chiến sỹ Cảnh vệ cất lên lời vĩnh quyết “Xin Bác ngủ giữa lòng đời lưu luyến/ Với Mác Lênin, giấc ngủ nghìn đời/ Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi…”. Thể hiện nỗi niềm thương tiếc khôn nguôi khi Bác ra đi mãi mãi…

10. Chúng Con Chiến Đấu Cho Người Sống Mãi Việt Nam Ơi

Đường dài đi giữa Trường Sơn
Nghe vọng bài ca đất nước

Đất Nước
Bốn ngàn năm không nghỉ
Những đạo quân song song cùng lịch sử
Đi suốt thời gian, đi suốt không gian
Sừng sững dưới trời anh dũng hiên ngang

Đất Nước
Của những câu chuyện đều làm ta rưng rung nước mắt
Đã trở thành những bài ca không bao giờ tắt
Trên mỗi con đường mỗi thôn xóm ta qua
Từ non ngàn cho tới biển xa

Đất Nước
Của thơ ca
Của bốn mùa hoa nở
Đọc trang Kiều tưởng câu hát dân gian
Nghe xôn xao trong gió hội mây ngàn

Đất Nước
Của những dòng sông
Gọi tên nghe mát rượi tầm hồn
Ngọt lịm những giọng hò xứ sở
Trong sáng như trời xanh, mượt mà như nhung lụa

Đất Nước
Của những người mẹ
Mặc áo thay vai
Hạt lúa củ khoai
Bền bỉ nuôi chồng, nuôi con chiến đấu

Đất Nước
Của những người con gái con trai
Đẹp như hoa hồng cứng như sắt thép
Xa nhau không hề rơi nước mắt
Nứơc mắt để dành cho ngày gặp mặt

Đất Nước
Của Bác Hồ
Của óc thông minh và lòng dũng cảm
Của những đèn pha cách mạng
Soi sáng chân trời xuyên suốt đại dương

Ôi tuổi thanh xuân
Mang bốn ngàn năm lịch sử trong tim
Ta sung sướng được làm người con Đất Nước
Ta băng tới trước quân thù như triều như thác
Ta làm bão, làm dông
Ta lay trời chuyển đất
Ta trút hờn căm để làm nênnhững vinh quang bất diệt
Giáng xuống quân thù như sấm sét không nguôi
Sức mạnh bốn ngàn năm đã biến thành bão lửa ngút trời

Đất Nước
Ta hát mãi bài ca Đất Nước
Cho tuổi thanh xuân sáng bừng lên như ngọc
Cho mắt ta nhìn tận cùng trời
Và cho chân ta đi tới cuối đất
Ôi! Tổ quốc mà ta yêu quý nhất
Chúng con chiến dấu cho Người sống mãi Việt Nam ơi!

Bài thơ là một lời quyết tâm, thể hiện dũng khí của người chiến sỹ khi ra trận, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì tổ quốc, vì công ơn của Bác Hồ. Mặc dù hiện tại Bác đã không còn cùng chúng cháu để chinh chiến nữa nhưng những lời Bác dạy vẫn mãi sáng muôn đời.

Top những bài thơ hay nhất về bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất

11. Con Đã Về Nơi Bác Ở Ngày Xưa

Con đã về nơi Bác ở ngày xưa
Đường biên giới rậm dài đá dốc.
Nơi Bác hôn nắm đất giữa nương ngô.
Ôi! năm đất về với tay “Người” dựng nước.

Giữa rừng núi còn dấu chân giặc cướp.
Lán ẩn cheo leo, rải rác hốc thông già.
Cỏ bấu ngâm đầy cho dòng suối trôi qua
Suối rửa miếng ăn người dân đói khổ.

Bác về, mời cụ “Các Mác” về, trên núi đá
Trong cả lòng hang, Bác tạc tượng người.
Như tạc niềm tin cho con cháu đời đời
Từ thẳm rừng sâu ngời lên chủ nghĩa.

Noọng gái nào năm xưa gạt lệ?
Địu chăn về, lo hang gió mông mênh.
Noọng đâu biết: trời tháng tám từ dây xoá mù.
Mới hé
Và cũng tự nơi đây ươm sắc nắng Ba Đình.

Dòng suối âm u hồng dậy ánh bình minh.
Mang tình cảm Lê-nin tràn đất nước.
Dòng suối từ ba mươi năm trước.
Từng đau gót chân thương, qua, lại đôi bờ.

Đàn cá về đớp hạt cơm ngô.
Bơi hớp cả lời thơ cảm khái.
Ta mượn gương xanh lẵng lại
Buổi chiều nào râu Bác trắng ưu tư?
Để đến hôm nay thuỷ điện ngợp bờ.
Khắp nẻo rừng cao, trào ra ánh sáng.

Tác giả bài thơ đã về lại nơi Bác Hồ kính yêu của chúng ta ở khi xưa, và cảm nhận thấy được sự khổ cực,chịu biết bao nhiêu khó khăn, gian khổ của Bác thời bấy giờ. Qua đó thể hiện sự cảm động, lòng biết ơn sâu sắc đến sự hy sinh cao cả của vị cha già dân tộc.

12. Con Đường Rợp Bóng Hồ Chí Minh

Tôi lớn lên giữa một thời mất nước
Người thanh niên lúc ấy biết gì đâu
Mắt chỉ thấy một hoàng hôn phía trước
Bài học đầu tiên mấy điệu thơ sầu

Người đã đến và bàn tay sáng tạo
Dắt toàn dân làm cách mạng thành công
Người tiếp tục những Trưng vương, Hưng Đạo
Người hoàn thành những Lê Lợi, Quang Trung

Hồ Chí Minh đây ngôi sao chỉ hướng
Ngọn hải đăng trên sóng vạn trùng khơi
Trong chói lọi của ngọn cờ lý tưởng
Tôi nhìn ra rạng rỡ những chân trời

Ôi những tiếng lần đầu đầy ánh sáng
Đẹp diệu kỳ như chân lý đơn sơ
Tiếng “đồng chí”, “đồng bào” và tiếng “Đảng”
Ta có thêm hai tiếng “Bác Hồ”

II

Giặc Pháp xâm lăng lần thứ hai lại đến
Bác gọi toàn dân đoàn kết chống xâm lăng
Ôi lời Bác những ngày đầu kháng chiến
Vang trong lòng dân tộc đến nghìn năm

Tôi từ giã nhà trường, từ giã mẹ
Nhập đoàn quân theo tiếng gọi thiêng liêng
Qua ruộng lúa vườn rau, qua tuổi trẻ
Con đường ra mặt trận cỏ xanh thêm

Xưa yêu cảnh, ngày nay yêu đất nước
Mơ một lưng đèo, nhớ một giòng sông
Trái tim cũng khác xa buổi trước
Lần đầu tiên gắn bó với công nông

Bác chỉ cho chúng ta đâu là mục đích
Sống vì ai và chết vì ai
Câu thơ đẹp là câu thơ có ích
Uống tự nguồn những suối ngọt ban mai

III

Em ở ngoài này cá nhân xuất sắc
Anh ở trong kia giết giặc lập công
Tình cảm lớn như lửa nồng không thể tắt
Chiếu hai miền hình ảnh Bác soi chung

Bác nói: Vì miền Nam ruột thịt
Mỗi một người phải làm việc bằng hai
Và toàn dân từ Nam đến Bắc
Cùng đánh cho giặc Mỹ chạy dài

Bác dạy ta yêu cuộc đời tập thể
Để hạnh phúc chung trên hạnh phúc riêng mình
Bác thắt chặt mối tình quốc tế
Giữ trong ngần chủ nghĩa Marx – Lenin

Nắm tay nhau những thế hệ Việt Nam
Đến mừng Bác bảy mươi lăm tuổi
Dâng Bác hôm nay tinh thần những Nguyễn Viết Xuân, Nguyễn Văn Trỗi…
Như hôm qua những Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn…

IV

Bác Hồ ơi cháu từ khi biết Bác
Thuở đang xanh của lứa tuổi hai mươi
Nay tóc cháu bắt đầu xen sợi bạc
Hai mươi năm. Lứa tuổi bốn mươi rồi

Con lớn cháu đã quàng khăn quàng đỏ
Vào đội thiếu niên, chào ảnh Bác trang nghiêm
Học hết lớp vỡ lòng, con bé nhỏ
Suốt ngày ca: “Bác của chúng em…”

Cháu không khỏi có lần vấp váp
Nhưng cháu vẫn hướng cả lòng theo Bác
Trải bao năm xuống bể lên ngàn
Trước con đường vinh quang chống Pháp
Nay con đường chống Mỹ vinh quang
Cháu khắc sâu trong tim lời Bác dặn
Nguyện sống theo lời Bác trọn đời mình
Trên con đường rợp bóng Hồ Chí Minh

Người đã lãnh đạo dân tộc Việt Nam vượt qua mọi gian lao, thử thách để lên đến đỉnh cao vinh quang của thời đại. Từ chuyện đi đường tưởng như rất đỗi bình thường, người chiến sĩ cộng sản lão thành Hồ Chí Minh đã dạy chúng ta một bài học nhân sinh thiết thực và bổ ích.

13. Con Viết Bài Thơ Dâng Bác

Vui sao giữa những ngày gian khổ
Bác bỗng về đây với chúng con
Tờ báo mới thơm mùi mực mới
Đến với con qua lớp lớp Trường Sơn

Con nhìn Bác nghẹn ngào không chớp mắt
Bác Hồ đây, Cha của chúng con đây!
Bác vẫn khoẻ hồng hào, trông rắn chắc
Hơn thuở đầu tiên Bác đứng giữa lễ đài!

Con nghe nói năm xưa Bác ra mặt trận
Cũng ruột nghé gạo đầy, cũng ống muối, ba lô
Giữa Hà Nội tươi vui đẹp màu áo sắc cờ
Bác vẫn giản đơn như cuộc đời bộ đội
Vẫn đôi dép cao su bốn mùa không thay đổi
Vẫn bộ đồ ka-ki quen thuộc, bạc màu
Mẹ hiền ơi! từng hạt thóc cọng rau
Nuôi con lớn thuở nước non còn nô lệ
Mẹ có biết đâu ngày nay con có Mẹ
Yêu thương con hơn máu mủ ruột rà
Mẹ không còn nhưng con mẹ đẻ ra
Đã lớn lên do tay Người dìu dắt
Con nhớ như in từng lời của Bác
Tiếng nói quê hương trong tiếng nói một người!
Con đếm được từng nhịp tim Bác đập
Dù giữa hai miền còn giới tuyến ngăn đôi
Trong xà-lim trước lưỡi lê máy chém
Hàng vạn chúng con đã thấy Bác bên mình
An ủi, vỗ về, tiếp sức đấu tranh
Dù đến cuối cuộc đời chưa gặp Bác
Đồng chí Cống, đồng chí Thuần, đồng chí Xuân Thu
Và muôn ngàn anh chị khác
Trước giờ chết, hiên ngang không khuất phục
Vẫn hô to: “Hồ Chủ tịch muôn năm!”

Có những em con chưa thấy Bác bao giờ
Trong giấc ngủ vẫn mơ chòm râu bạc!
Vẫn níu áo chú cô hỏi thăm ngày thống nhất
Vẫn làm dấu từng ngày trên bìa sách của ba
(Ba ở ngoài kia chắc đã gặp Bác Hồ
Nhất định ngày mai ba sẽ về với Bác)

Ngày mai tan lũ quân thù đế quốc
Chúng con sẽ về quanh Bác, Bác ơi!
Băng bó đau thương, xây dựng lại cuộc đời
Như muôn mạch máu li ti trở về tim vĩ đại
Con sẽ hôn những bàn tay thân ái
Gục đầu lên gối Bác, khóc như xưa
Thuở đầu tiên nghe tiếng nói Bác Hồ
Bác là tất cả trong lòng con, nửa nước!

Bài thơ này thật giàu hình ảnh, giàu cảm xúc. Mấy ai đọc bài thơ mà không thấy rung động trong lòng. Bằng cách sử dụng điêu luyện những biện pháp tu từ một cách sáng tạo, tác giả đã thể hiện tình cảm ngọt ngào đằm thắm lại rất giản dị chân thành đối với Bác.

14. Ông Cụ Đến Làng Tôi

Có ông Cụ đến bản tôi
Nghe nói ông Cụ làm to lắm,
Ông chủ nhiệm Việt Minh chạy lên phía ngược để đón
Anh chủ tịch ra đầu bản dẫn đường
Bà hội trưởng phụ nữ sửa soạn nhà rộng có giường
Cụ tổ phó phụ lão sắm ấm trà có chén.

Nhưng ông Cụ lại đi từ phía xuôi đến
Vào các nhà bé nhất ở cuối bản hỏi thăm
Hỏi cách nuôi gà, hỏi cách làm nương
Như một người đi thăm pí-noọng
Ông cụ gấp cho em bé một cái lọng
Uống nước với người già bằng cái ống bương
Rồi khuyên bảo dân vào du kích giữ bản mường
Và bảo nên làm thêm súng kíp
Nên trồng thêm lúa Nam Ninh, trồng thêm bắp…

Quần xắn ống cao, chân đi đôi dép
Chiếc áo chàm vá hai miếng ở vai
Trán cao lắm, mắt sáng, râu thưa hơi dài
Khi nói chuyện hay ví câu hát lượn
Ông chủ nhiệm mời Cụ lên nhà rộng
Cụ lắc đầu nói: “Lòng rộng mới quý hơn
Sau này kháng chiến thành công
Chúng ta làm cho nhà nào cũng rộng”.
Cụ tổ phó phụ lão dắt ra con ngựa giống
Mời Cụ đi, Cụ nói:”Tôi không quen.
Để ngựa mà tải đạn, tải lương
Cho bộ đội đang cần ngoài mặt trận
Mỗi con ngựa bằng ba người gánh nặng…”

Ông Cụ đi, cả bản chạy theo
Cán bộ không nói hở nửa điều
Nhưng chúng tôi đều biết ông Cụ là Bác Hồ kính mến
Khi nào Bác lại đến?
Thân như người nhà, mong Bác chớ ốm, dân lo.

Bài thơ “Ông Cụ Đến Làng Tôi” này với hình ảnh ông cụ là Bác Hồ kính yêu của chúng ta. Mặc dù Bác được xem là chức vụ to lớn nhưng vẫn rất ân cần, giản dị với những người trong làng, và như vậy tác giả có tình cảm đặc biệt với Bác và cầu mong Bác luôn mạnh khỏe.

15. Viếng Lăng Bác

Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân…

Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!

Mai về miền Nam, thương trào nước mắt
Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
Muốn làm đóa hoa tỏa hương đâu đây
Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này.

Tác giả đã truyền dược cảm xúc của mình đến với người đọc chính bởi cảm xúc của cả đồng bào Nam bộ nói riêng cùa dân tộc nói chung. Chúng ta những cháu ngoan của Bác Hồ cũng xin nguyện như Viễn Phương làm cây tre trung hiếu, làm bông hoa đẹp, làm tiếng chim hay và làm muôn ngàn công việc tốt để dâng lên Người.

16. Về thăm nhà Bác

Về thăm nhà Bác, làng Sen
Có hàng râm bụt thắp lên lửa hồng
Có con bướm trắng lượn vòng
Có chùm ổi chín vàng ong sắc trời.
Ngôi nhà thuở Bác thiếu thời
Nghiêng nghiêng mái lợp bao đời nắng mưa
Chiếc giường tre quá đơn sơ
Võng gai ru mát những trưa nắng hè.
Làng Sen như mọi làng quê
Ngôi nhà lẫn với hàng tre bóng tròn.
Kìa hàng hoa đỏ màu son,
Kìa con bướm trắng chập chờn như mơ.

17. Theo Chân Bác

Anh dắt em vào cõi Bác xưa
Đường xoài hoa trắng nắng đu đưa
Có hồ nước lặng sôi tăm cá
Có bưởi cam thơm, mát bóng dừa.

Có rào râm bụt đỏ hoa quê
Như cổng nhà xưa Bác trở về
Có bốn mùa rau tươi tốt lá
Như những ngày cháo bẹ măng tre….

Nhà gác đơn sơ, một góc vườn
Gỗ thường mộc mạc, chẳng mùi sơn
Giường mây chiếu cói, đơn chăn gối
Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn.

Máy chữ thôi reo, nhớ ngón đàn
Thong dong chiếc gậy gác bên bàn
Còn đôi dép cũ, mòn quai gót
Bác vẫn thường đi giữa thế gian…

Bụt mọc dầm chân đứng đợi ai
Quanh hồ thấp thoáng bóng hôm mai
Ngọn đèn kia thức bên ai đó
Mà dạ hương còn phảng phất bay!

Ô vẫn còn đây, của các em
Chồng thư mới mở, Bác đang xem
Chắc Người thương lắm lòng con trẻ
Nên để bâng khuâng gió động rèm…

Con cá rô ơi, chớ có buồn
Chiều chiều Bác vẫn gọi rô luôn
Dừa ơi, cứ nở hoa đơm trái
Bác vẫn chăm tay tưới ướt bồn

Ôi lòng Bác vậy, cứ thương ta
Thương cuộc đời chung, thương cỏ hoa
Chỉ biết quên mình, cho hết thảy
Như dòng sông chảy, nặng phù sa.

Như đỉnh non cao tự giấu hình
Trong rừng xanh lá, ghét hư vinh
Bác mong con cháu mau khôn lớn
Nối gót ông cha, bước kịp mình.

Ta vào thăm Bác, gặp Lê-nin
Trán rộng yêu thương, dõi mắt nhìn
Người đến cùng ta, ngồi với Bác
Như hình với bóng, một anh linh.

18. Em Gặp Bác Hồ

Có ai se sẽ ngồi xuống đầu giường
Đưa bàn tay mát như kem sữa
Xoa lên trán em đang dịu lửa
Vuốt lên mắt em đang bớt mờ
A, Bác Hồ!
Bác Hồ ta đó!
Bác mặc tấm áo ka ki
Bàng bạc sương rừng Pắc Bó
Trán Bác có ngôi sao
Thảo nào Bác đi đêm không lạc Bác ơi, Bác!
Bác cười rung rung chòm râu
Mắt Bác sao mà thương thế
Tóc Bác thơm lừng gió bể
Thơm nắng đường xa
Bác cho em nhiều quà
Và khen dạo này em béo khỏe
Hơn ngày xưa nhiều
Cúc áo em bị đứt từ chiều
Đêm phanh ra, hở ngực
Bác đắp vào cho em
Rồi Bác ra rất êm
Bác đi! Bác đi rồi!
Em bỗng oà lên khóc
Tỉnh dậy thấy ướt đầm mái tóc
Nhìn xem Bác có đâu đây,
Chỉ thấy đầy trời đèn sáng, mưa bay
Người người lặng im đi viếng Bác
Bóng đèn rưng rưng nước mắt…
Đúng rồi
Bệnh viện em vừa truy điệu Bác chiều nay
Nhưng Bác chỉ yên nghỉ ban ngày
Chứ ban đêm là Bác rời linh cữu
Bác chào chú đứng gác
Rồi đi vòng quanh khắp trên thế giới
Để chăm sóc trẻ con
Nhất là đứa nào phải nằm trong bệnh viện..

Top những bài thơ hay nhất về bác Hồ kính yêu ý nghĩa nhất

19. Đêm Nay Bác Không Ngủ

Anh đội viên thức dậy
Thấy trời khuya lắm rồi
Mà sao Bác vẫn ngồi
Đêm nay Bác không ngủ.
Lặng yên bên bếp lửa
Vẻ mặt Bác trầm ngâm
Ngoài trời mưa lâm thâm
Mái lều tranh xơ xác.
Anh đội viên nhìn Bác
Càng nhìn lại càng thương
Người Cha mái tóc bạc
Đốt lửa cho anh nằm.
Rồi Bác đi dém chăn
Từng người từng người một
Sợ cháu mình dật thột
Bác nhón chân nhẹ nhàng.
Anh đội viên mơ màng
Như nằm trong giấc mộng
Bóng Bác cao lồng lộng
Ấm hơn ngọn lửa hồng.
Thổn thức cả nỗi lòng
Thầm thì anh hỏi nhỏ :
– Bác ơi ! Bác chưa ngủ ?
Bác có lạnh lắm không ?
– Chú cứ việc ngủ ngo
Ngày mai đi đánh giặc
Vâng lời anh nhắm mắt
Nhưng bụng vẫn bồn chồn.
Không biết nói gì hơn
Anh nằm lo Bác ốm
Lòng anh cứ bề bộn
Vì Bác vẫn thức hoài.
Chiến dịch hãy còn dài
Rừng lám dốc lắm ụ
Đêm nay Bác không ngủ
Lấy sức đâu mà đi.
… Lần thứ ba thức dậy
Anh hoảng hốt giật mình
Bác vẫn ngồi đinh ninh
Chòm râu im phăng phắc.
Anh vội vàng nằng nặc :
– Mời Bác ngủ Bác ơi !
Trời sắp sáng mất rồi
Bác ơi ! Mời Bác ngủ !
– Chú cứ việc ngủ ngon
Ngày mai đi đánh giặc
Bác thức thì mặc Bác
Bác ngủ không an lòng.
Bác thương đoàn dân công
Đêm nay ngủ ngoài rừng
Rải lá cây làm chiếu
Manh áo phủ làm chăn.
Trời thì mưa lâm thâm
Làm sao cho khỏi ướt !
Càng thương càng nóng ruột
Mong trời sáng mau mau.
Anh đội viên nhìn Bác
Bác nhìn ngọn lửa hồng
Lòng vui sướng mênh mông
Anh thức luôn cùng Bác.
Đêm nay Bác ngồi đó
Đêm nay Bác không ngủ
Vì một lẽ thường tình
Bác là Hồ Chí Minh.

20. Người

Một người không Phật mà rất Phật
Không tắm Hoàng Hà tắm sông Lam

Một người rất Mác mà ngoài Mác
Nghèo như chút nhút ngọt như cam

Một người quốc tế vì dân tộc
Một lòng sau trước nghĩa kết đoàn

Một người hóa thân thành dân nước
Không là thần thánh chẳng vua quan

Một người ấp ủ bao khao khát
Như mọi con người ở trần gian

Cuộc đời vạn biến mà không khác
Một người toàn vẹn chỉ Việt Nam

21. BÁC ƠI!

Tiếng Bác gọi non sông Tổ Quốc
Toàn nhân dân bó đuốc một lòng
Giữ gìn mảnh đất Cha Ông
Chưa đánh tan giặc quyết không trở về

Bao lớp trẻ lời thề ghi khắc
Giữ yên bình từ Bắc Vô Nam
Đạn bom khói lửa ngập tràn
Vững vàng tay súng gian nan chẳng sờn

Tình gắn bó keo sơn một dải
Quyết tiến lên giữ lại quê hương
Lời ca theo khắp nẻo đường
Tiếng Người vang vọng yêu thương dạt dào

Nỗi nhớ Bác làm sao nguôi được
Ngày tháng năm xuôi ngược dòng người
Muôn ngàn màu sắc hoa tươi
Về đây hội tụ bên Người kính yêu.

22. TRỒNG CÂY LẠI NHỚ ĐẾN NGƯỜI

Nhớ năm ấy Bác trồng cây vú sữa
Ấm tình Người chan chứa những yêu thương
Miền Nam ơi xa biết mấy dặm đường
Bác mong nhớ đêm trường nằm không ngủ

Cây đã lớn trổ hoa đơm đầy nụ
Công ơn Người âp ủ trái tim con
Thời gian trôi bóng hình Bác mãi còn
Trong nhân loại mốc son trang sử mới

Ngày thống nhất lòng hân hoan phấn khởi
Bài tuyên ngôn mang tới những niềm vui
Chiến tranh qua chung tay đã đẩy lùi
Nhìn cây lớn ngậm ngùi thương nhớ Bác.

tiểu sử và chức vụ

Hồ Chí Minh (19 tháng 5 năm 1890 – 2 tháng 9 năm 1969) tên khai sinh: Nguyễn Sinh Cung,[2] là nhà cách mạng, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, một trong những người đặt nền móng và lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam trong thế kỷ XX, một chiến sĩ cộng sản quốc tế. Ông là người viết và đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945 tại quảng trường Ba ĐìnhHà Nội, là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian 1945 – 1969, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam trong thời gian 1951 – 1969.

Là lãnh tụ được nhiều người ngưỡng mộ và tôn sùng, lăng của ông được xây ở Hà Nội, nhiều tượng đài của ông được đặt ở khắp mọi miền Việt Nam, hình ảnh của ông được nhiều người dân treo trong nhà, đặt trên bàn thờ,[3][4][5][6] và được in ở hầu hết mệnh giá đồng tiền Việt Nam. Hồ Chí Minh được thờ cúng ở một số đền thờ và chùa Việt Nam.[7][8][9] Ông đồng thời cũng là nhà văn, nhà thơ và nhà báo với nhiều tác phẩm viết bằng tiếng Việttiếng Hán và tiếng Pháp. Ông được tạp chí Timebình chọn là 1 trong 100 người có ảnh hưởng nhất của thế kỷ XX.[10][11][12]

Hồ Chí Minh
Ho Chi Minh 1946.jpg

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946
Chức vụ
Nhiệm kỳ 2 tháng 9 năm 1945 – 2 tháng 9năm 1969
24 năm, 0 ngày
Tiền nhiệm Không có
Kế nhiệm Tôn Đức Thắng (Quyền Chủ tịch)
Vị trí Việt Nam
Phó chủ tịch nước Nguyễn Hải Thần (1945-1946)

Vũ Hồng Khanh (1946)

Tôn Đức Thắng (1960-1969)

Nhiệm kỳ 2 tháng 9 năm 1945 – 20 tháng 9 năm 1955
10 năm, 18 ngày
Tiền nhiệm Không có
Kế nhiệm Phạm Văn Đồng
Vị trí Chính phủ Việt Nam
Nhiệm kỳ 19 tháng 2 năm 1951 – 2 tháng 9 năm 1969
18 năm, 195 ngày
Kế nhiệm bị bãi bỏ
Vị trí Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhiệm kỳ 28 tháng 8 năm 1945 – 2 tháng 3 năm 1946
0 năm, 186 ngày
Tiền nhiệm Không có
Kế nhiệm Nguyễn Tường Tam
Vị trí Bộ Ngoại giao Việt Nam
Nhiệm kỳ 3 tháng 11 năm 1946 – tháng 3năm 1947
Tiền nhiệm Nguyễn Tường Tam
Kế nhiệm Hoàng Minh Giám
Vị trí Bộ Ngoại giao Việt Nam
Nhiệm kỳ 31 tháng 3 năm 1935 – 2 tháng 9 năm 1969
34 năm, 155 ngày
Vị trí Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ Việt Nam [1]
Nhiệm kỳ 23 tháng 11 năm 1946 (Ngày thành lập Hội) – năm 1969
22 năm, 283 ngày
Kế nhiệm Đỗ Mười
Thông tin chung
Đảng phái Flag of the Communist Party of Vietnam.svgĐảng Cộng sản Việt Nam

Logopcf13.pngĐảng Cộng sản Pháp (1920)

Sinh 19 tháng 5, 1890
Nghệ AnLiên bang Đông Dương
Mất 2 tháng 9, 1969 (79 tuổi)
Hà NộiViệt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nơi ở Hà Nội
Dân tộc Kinh
Tôn giáo Tín ngưỡng Việt Nam
Gia quyến Hà Thị Hi (bà nội)
Nguyễn Thị Thanh (chị)
Nguyễn Sinh Khiêm (anh)
Nguyễn Sinh Nhuận (em, mất khi còn sơ sinh)
Cha Nguyễn Sinh Sắc
Mẹ Hoàng Thị Loan
Chữ ký Ho Chi Minh Signature.svg

TIỂU SỬ

(HCM.VN) – Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19/5/1890 ở xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An; mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.

 

                            Chủ tịch Hồ Chí Minh

                                 (1890 – 1969)

Hồ Chí Minh sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, lớn lên ở một địa phương có truyền thống anh dũng chống giặc ngoại xâm. Sống trong hoàn cảnh đất nước chìm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thời niên thiếu và thanh niên của mình, Hồ Chí Minh đã chứng kiến nỗi khổ cực của đồng bào và những phong trào đấu tranh chống thực dân, Hồ Chí Minh sớm có chí đuổi thực dân, giành độc lập cho đất nước, đem lại tự do, hạnh phúc cho đồng bào.

Với ý chí và quyết tâm đó, tháng 6/1911, Hồ Chí Minh đã rời Tổ quốc đi sang phương Tây để tìm con đường giải phóng dân tộc.

Từ năm 1912 – 1917, dưới cái tên Nguyễn Tất Thành, Hồ Chí Minh đến nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ, châu Phi, sống hoà mình với nhân dân lao động. Qua thực tiễn, Hồ Chí Minh cảm thông sâu sắc cuộc sống khổ cực của nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa cũng như nguyện vọng thiêng liêng của họ. Hồ Chí Minh sớm nhận thức được cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới và tích cực hoạt động nhằm đoàn kết nhân dân các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do.

Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh trở lại Pháp, hoạt động trong phong trào Việt kiều và phong trào công nhân Pháp.

Năm 1919, lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Hồ Chí Minh đã gửi tới Hội nghị Vécxây (Versailles) bản yêu sách đòi quyền tự do cho nhân dân Việt Nam và cũng là quyền tự do cho nhân dân các nước thuộc địa.

Dưới ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp và bỏ phiếu tán thành Đảng gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản), trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ một người yêu nước trở thành một người cộng sản, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Năm 1921, cùng với một số người yêu nước của các thuộc địa Pháp, Nguyễn Ái  Quốc tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa. Tháng 4/1922, Hội xuất bản báo “Người cùng khổ” (Le Paria) nhằm đoàn kết, tổ chức và hướng dẫn phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa. Nhiều bài báo của Nguyễn Ái Quốc đã được đưa vào tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp”, xuất bản tại Paris năm 1925. Đây là một công trình nghiên cứu về bản chất của chủ nghĩa thực dân, góp phần thức tỉnh và cổ vũ nhân dân các nước thuộc địa đứng lên tự giải phóng.

Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc từ Pháp sang Liên Xô, làm việc tại Quốc tế Cộng sản. Tháng 10/1923, tại Hội nghị Quốc tế Nông dân lần thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc được bầu vào Hội đồng Quốc tế Nông dân và là đại biểu duy nhất của nông dân thuộc địa được cử vào Đoàn Chủ tịch của Hội đồng. Tiếp đó tham dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ V, Đại hội Quốc tế Thanh niên lần thứ IV, Đại hội Quốc tế Công hội đỏ. Tại các đại hội, Nguyễn Ái Quốc kiên trì bảo vệ và phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, hướng sự quan tâm của Quốc tế Cộng sản tới phong trào giải phóng dân tộc.

Tháng 11/1924, với tư cách là Uỷ viên Ban Phương Đông Quốc tế Cộng sản và Uỷ viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc làm việc trong đoàn cố vấn Bôrôđin của Chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Tôn Dật Tiên.

Năm 1925, Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ cách mạng, ra tuần báo “Thanh niên”, tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc tại các lớp huấn luyện được tập hợp in thành sách “Đường Kách mệnh” –  một văn kiện lý luận quan trọng đặt cơ sở tư tưởng cho đường lối cách mạng Việt Nam.

Tháng 5/1927, Nguyễn Ái Quốc rời Quảng Châu đi Mátxcơva (Liên Xô), sau đó đi Béclin (Đức), đi Brúcxen (Bỉ), tham dự phiên họp mở rộng của Đại hội đồng Liên đoàn chống chiến tranh đế quốc, sau đó đi Ý và từ đây về châu Á.

Từ tháng 7/1928 đến tháng 11/1929, Nguyễn Ái Quốc hoạt động trong phong trào Việt kiều yêu nước ở Xiêm (Thái Lan), tiếp tục chuẩn bị cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Tháng 2/1930, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long, thuộc Hồng Kông (Trung Quốc). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam.

Tháng 6/1931, Nguyễn Ái Quốc bị chính quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Đầu năm 1933, Nguyễn Ái Quốc được trả tự do.

Từ năm 1934 đến năm 1938, Nguyễn Ái Quốc nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu các vấn đề dân tộc thuộc địa tại Mátxcơva (Liên Xô). Kiên trì con đường đã xác định cho cách mạng Việt Nam, Người tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước.

Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô sang Trung Quốc, bắt liên lạc với tổ chức Đảng chuẩn bị về nước.

Ngày 28/1/1941, Nguyễn Ái Quốc về nước sau hơn 30 năm xa Tổ quốc.

Tháng 5/1941, Nguyễn Ái Quốc triệu tập Hội nghị lần thứ VIII Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quyết định đường lối cứu nước trong thời kỳ mới, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh), tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc tìm sự liên minh quốc tế, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây. Trong thời gian một năm 14 ngày bị tù, Người đã viết tập thơ “Nhật ký trong tù” với 133 bài thơ chữ Hán. Tháng 9/1943, Hồ Chí Minh được trả tự do.

Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh rời Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Hồ Chí Minh, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi. Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Hồ Chí Minh đọc “Tuyên ngôn độc lập”, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam độc lập.

Ngay sau đó, thực dân Pháp gây chiến tranh, âm mưu xâm chiếm Việt Nam một lần nữa. Trước nạn ngoại xâm, Hồ Chí Minh kêu gọi cả nước đứng lên bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc với tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Người đã khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành thắng lợi.

Tháng 2/1951, tại Đại hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành thắng lợi to lớn, kết thúc vẻ vang bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (1954), giải phóng hoàn toàn miền Bắc.

Từ năm 1954, Người cùng Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Tháng 9/1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Năm 1964, đế quốc Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân đánh phá miền Bắc Việt Nam. Người động viên toàn thể nhân dân Việt Nam vượt mọi khó khăn gian khổ, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Người khẳng định: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quí hơn độc lập, tự do! Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”.

Ngày 2//9/1969, Người mất tại Hà Nội.

Trước khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho nhân dân Việt Nam bản Di chúc lịch sử, căn dặn những việc nhân dân Việt Nam phải làm để xây dựng đất nước sau chiến tranh. Người viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

Thực hiện Di chúc của Người, toàn dân Việt Nam đã đoàn kết một lòng đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng máy bay B52 của đế quốc Mỹ, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam.

Mùa xuân năm 1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, nhân dân Việt Nam đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, thực hiện mong ước thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam và sáng lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Người luôn luôn gắn cách mạng Việt Nam với cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người là tấm gương đạo đức cao cả, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, vô cùng khiêm tốn, giản dị.

Năm 1987, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam”.

Ngày nay, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, hội nhập với thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.